TÌNH HÌNH TĂNG ACID URIC MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỪ 35 TUỔI TRỞ LÊN TẠI TỈNH CÀ MAU
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy tỉ lệ tăng acid uric máu (AUM) ngày càng tăng cao trong cộng đồng, Thái Lan 24,4% [14], Đài Loan 36% [11]. Các yếu tố gây tăng AUM như uống rượu, thức ăn khô, phủ tạng động vật, OR=2,15[1,22–3,76], [15] các yếu tố làm giảm AUM như tập thể dục, ăn nhiều rau xanh OR=0,5[0,12-68][12]. Mục tiêu nghiên cứu: 1) Xác định tỷ lệ tăng acid uric máu ở người từ 35 tuổi trở lên tại tỉnh Cà Mau. 2) Tìm hiểu mối liên quan giữa thói quen ăn uống, sinh hoạt với tình trạng tăng acid uric máu ở người từ 35 tuổi trở lên tại tỉnh Cà Mau. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tích trên 2232 người dân tỉnh Cà Mau, tuổi từ 35 tuổi trở lên từ 4/2016-4/2017, thực hiện thu thập mẫu máu, xét nghiệm acid uric máu của người dân và phỏng vấn về các yếu tố liên quan được khảo sát bằng bộ câu hỏi soạn sẳn. Kết quả: Tỷ lệ tăng AUM ở người dân từ 35 tuổi trở lên, cư trú tại tỉnh Cà Mau trong nghiên cứu là 14,83%; Tỷ lệ tăng AUM ở nam là 20,13% và ở nữ là 9,7%. Người dân có thói quen uống rượu, ăn thịt đỏ, thức ăn khô, phủ tạng động vật, hải sản có tỷ lệ tăng AUM cao hơn so với người không có thói quen này với các tỷ lệ lần lượt là 42,07%/10,76%; 26,4%/12,49%; 26,09%/13,39%; 44,14%/12,79%; 19,84%/14,18% (p đều <0,001). Ngược lại, người ăn nhiều rau xanh, tập thể dục thường xuyên có tỷ lệ tăng AUM thấp hơn so với người không có thói quen này với các tỷ lệ lần lượt là 7,59%/16,41%; 7,11%/17,86% (p đều <0,001). Kết luận: Tỷ lệ tăng AUM ở người dân từ 35 tuổi trở lên là 14,83%. Các yếu tố thói quen uống rượu-bia, ăn thịt đỏ, ăn thức ăn khô, ăn phủ tạng động vật, hải sản có nguy cơ làm tăng AUM và các yếu tố ăn nhiều rau xanh, tập thể dục thường xuyên sẽ làm giảm AUM ở người dân, với p đều <0,001.
Từ khóa
tăng acid uric máu, thói quen ăn uống sinh hoạt
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Phan Văn Hợp (2011), Tình hình tăng acid uric máu và kiến thức, thực hành dinh dưỡng ở người cao tuổi tại hai xã huyện Vụ Bản Nam Định năm 2011, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Thái Bình, tr: 42-70.
3. Phạm Ngọc Khái (2012), “Tình hình tăng AUM và kiến thức, thực hành dinh dưỡng ở người cao tuổi tại hai xã huyện Vụ Bản, Nam Định năm 2011”, Tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm, 8(2), tr: 76-80.
4. Huỳnh Kim Phượng (2017), “Tương quan giữa Hội chứng chuyển hóa và nồng độ acid uric máu ở người kiểm tra sức khỏe tổng quát”, Tạp chí y học Việt Nam, 458(1), tr: 230-234.
5. Trịnh Kiến Trung (2014), Nghiên cứu nồng độ acid uric máu, bệnh gút và hội chứng chuyển hóa ở người từ 40 tuổi trở lên tại thành phố Cần Thơ, Luận án tiến sĩ y học, Học Viện Quân Y.
6. Lê Danh Tuyên, Cao Thị Thu Hương, Trần Thị Quỳnh Anh, (2018), “Thực trạng acid uric máu ở người trưởng thành 40-69 tuổi tại thị trấn Phùng và xã Tân Hội, Đan Phượng, Hà Nội năm 2015”, Tạp chí y học Việt Nam, 472(2), tr: 55-58.
7. Choi HK, Liu S, Curhan G (2005), “Intake of purine-rich foods, protein, dairy products, and serum uric acid level: the Third National Health and Nutrition Examination Survey”, Arthritis Rheum, 52, pp: 283-289.
8. Daniel I Feig, Marilda Mazzali (2006), “Serum uric acid: a risk factor and a target for treatment?", JAm Soc Nephrol, 17, pp : 69-73.
9. Havlik J., Plachy V., Fernandez J. and Rada V (2010), "Dietary purines in vegetarian meat analogues", J Sci Food Agric, 90(14), pp: 2352-2357.
10. I. Holme et al, (2009), Uric acid and risk of myocardial infarction, stroke and congestive heart failure in 417734 men and women in the Apolipoprotein Mortality RISk study, Internal Medicine; 266 (6) pp: 558 -570.
11. Lee M-S, Lin S-C, Chang H-Y, et al (2005), “High prevalence of hyperuricemia in elderly Taiwanese”, Asia Pac J Clin Nutr, 14, pp: 285–292.
12. Paul T Williams (2008), “Effects of diet, physical activity and performance, and body weight on incident gout in ostensibly healthy, igorously active men”, American Society for Clinical Nutrition 87(50), pp : 1480-1487.
13. Ryu K. A, et al (2014), "Comparison of nutrient intake and diet quality between hyperuricemia subjects and controls in Korea", Clin Nutr Res, 3(1), pp: 56-63.
14. Somchai Uaratanawong (2011), “Prevalence of hyperuricemia in Bangkok population”, Clin Rheumatol, 30, pp: 887-893.
15. Zhang M, et al, (2012), “Major dietary patterns and risk of asymptomatic hyperuricemia in Chinese adults”, J Nutr Sci Vitaminol, 58(5), pp: 339-45.