HIỆU QUẢ CỦA NẸP VÍT TỰ TIÊU TRONG KẾT HỢP XƯƠNG BỜ NGOÀI Ổ MẮT ĐỂ ĐIỀU TRỊ GÃY PHỨC HỢP GÒ MÁ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Sử dụng vật liệu tự tiêu có thể giảm một số nhược điểm trong điều trị gãy xương mặt. Mục tiêu nghiên cứu: Báo cáo này nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng nẹp vít tự tiêu trong kết hợp xương bờ ngoài ổ mắt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hai mưới sáu bệnh nhân được chẩn đoán gãy phức hợp gò má và điều trị kết hợp xương bờ ngoài ổ mắt bằng nẹp vít tự tiêu tại thành Phố Hồ Chí Minh. Tất cả bệnh nhân được đánh giá kết quả điều trị vào thời điểm 1, 4, 16 tuần sau mổ. Kết quả: Độ há miệng trong mỗi thời điểm được đánh giá là 37.543.37mm, 41.04 1.12mm, 41.04 1.12mm. Tất cả trường hợp đều thành công, không chảy máu hay nhiễm trùng. Tỉ lệ tê bì sau 16 tuần theo dõi là 19,2%. Hầu hết bệnh nhân cân xứng mặt, không sẹo xấu, và mất chức năng. Kết luận: Nẹp vít tự tiêu trong kết hợp xương bờ ngoài ổ mắt, dù khó thực hiện và đắt tiền, nhưng là một cải tiến có ý nghĩa so với vật liệu kim loại truyền thống trong một số trường hợp.
Từ khóa
Chấn thương mặt, kết hợp xương vùng mặt, gãy phức hợp gò má, nẹp vít tự tiêu
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Trương Mạnh Dũng (2012), "Đặc tính sinh học của nẹp vít tự tiêu dùng trong phẫu thuật", Tạp chí nghiên cứu Y học, Số 2, trang 50-54.
3. Vũ Thị Bắc Hải (2002), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị gãy phức hợp gò má cung tiếp tại Bệnh viện Trung ương Huế", Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Huế.
4. Nguyễn Quốc Trung (1997), "Nghiên cứu hình thái lâm sàng, phương pháp điều trị gãy xương gò má, cung tiếp tại Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội 1993-1997”, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
5. Böstman OM, Pihlajamäki HK (2000), “Adverse tissue reactions to bioabsorbable fixation devices”, Clin Orthop Relat Res, (371), tr. 216-27.
6. Enislidis G Wittwer G (2005), "Fixaton of Zigomatic fracture and with a biodegradable compolymer osteosynthesis system: short and long term results”, Int J oral maxillofac Surg, 34(1), tr. 19-26.
7. Kim K. Ibrahim A.M., Koolen P.G. et al (2014), "Trends in facial fracture treatment using the American College of Surgeons National Surgical Quality Improvement Program database”, Plastic and reconstructive surgery, 133(3), tr. 627-38.
8. Malik Altaf Hussain, Aijaz A. Shah, Irshad Ahmad, Babar Ai Shah (2017), “Ocular Injuries in Patients of Zygomatico-Complex (ZMC) Fractures”, J Maxillofac Oral Surg,4vol 16, tr. 243–7.
9. Ashammakhi N, Renier D, Arnaud E, et al (2004), " Successful use of biosorb osteofixation devices in 165 cranial and maxillofacial cases: a multicenter report”, J Craniofac Surg, 15(4), tr. 692-701.
10. Shadad M. Mahmoud, Liao HT, Chen CT (2016), “Aesthetic and Functional Outcome of Zygomatic Fractures Fixation Comparison With Re sorbableVersus Titanium Plates”, Ann Plast Surg. 76(1), tr. 85-90.
11. Peltoniemi HH, Hallikainen D, Toivonen T, Helevirta P et al (1999), “SR-PLLA and SRPGA miniscrews: biodegradation and tissue reactions in the calvarium and duramater”, J Craniomaxillofac Surg. 27(1), tr. 42-50.
12. Raymond J. Fonseca et al (2018), Oral and maxillofacial surgery, 3rd Ed, Vol 2, Elsevier, Inc, Missouri, USA, Tr. 189-210.