ỨNG DỤNG KỸ THUẬT THẤM MIỄN DỊCH TRONG XÁC ĐỊNH DỊ NGUYÊN TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Kỹ thuật thấm miễn dịch là một trong những phương pháp cho phép xác định chính xác IgE đặc hiệu với từng thành phần dị nguyên riêng lẻ, cung cấp thêm chứng cứ khoa học cho việc phòng ngừa phản ứng dị ứng, hỗ trợ đánh giá mức độ dị ứng và lựa chọn hướng điều trị phù hợp cho người bệnh. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ và mức độ phát hiện các loại dị nguyên thường gặp bằng kỹ thuật thấm miễn dịch trên mẫu bệnh phẩm dị ứng tại Bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích trên 182 mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân bị dị ứng được gửi đến Khoa Xét nghiệm của Bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ từ tháng 10 năm 2024 đến tháng 9 năm 2025. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 70,9% mẫu bệnh phẩm có phản ứng dương tính với ít nhất một dị nguyên. Trong số 58 dị nguyên được phát hiện, có 15 dị nguyên chiếm tỷ lệ cao nhất. Ba dị nguyên thường gặp nhất là mạt nhà D. farinae (54,9%), mạt nhà D. pteronyssinus (34,6%) và bụi nhà (30,2%). Các dị nguyên có tỷ lệ dương tính ở mức mạnh, rất mạnh và cực kỳ mạnh chủ yếu là gián (6,6%), mạt nhà D. farinae (4,9%) và mạt nhà D. pteronyssinus (4,4%). Ngược lại, một số dị nguyên có tỷ lệ thấp nhất (0,5%) bao gồm lúa mì, cá bơn/cá minh thái Alaska, mực ống và pho mát/pho mát cứng. Đa số mẫu bệnh phẩm dương tính với từ hai dị nguyên trở lên (86,8%), trong khi chỉ 13,2% dương tính với một dị nguyên duy nhất. Kết luận: Tỷ lệ dương tính với dị nguyên trong nghiên cứu của chúng tôi là 70,9% với 15 loại dị nguyên có tỷ lệ dương tính cao nhất. Dị nguyên có mức độ dương tính cao nhất là gián, tiếp theo là mạt nhà D. farinae và D. pteronyssinus.
Từ khóa
Kỹ thuật thấm miễn dịch, dị nguyên, bệnh dị ứng
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Marek Jutel, Ioana Agache, Magdalena Zemelka-Wiacek, et al. Nomenclature of allergic diseases and hypersensitivity reactions: Adapted to modern needs: An EAACI position paper. Allergy. 2023. 78(11), 2851-2874. doi: 10.1111/all.15889.
3. Ignacio J Ansotegui, Giovanni Melioli, Giorgio Walter Canonica, et al. IgE allergy diagnostics and other relevant tests in allergy, a World Allergy Organization position paper. World Allergy Organ J. 2021. 14(7), 100557. doi: 10.1016/j.waojou.2021.100557.
4. Katharina Hahn, Marie C. Schuppe, Moritz M. Hollstein, et al. Comparison of the new RIDA qLine Allergy multiparameter immunoblot and the ImmunoCAP Specific IgE test for the identification of clinically relevant food and aeroallergen allergies. Frontiers in Allergy. 2025. 5, 1496882, doi: 10.3389/falgy.2024.1496882.
5. M Berge, L Bertilsson, O Hultgren, et al. Qualitative and quantitative comparison of allergen component-specific IgE to birch and grass analyzed by ImmunoCAP assay and Euroline immunoblot test. Eur Ann Allergy Clin Immunol. 2023. 55(2), 68-77. doi:10.23822/EurAnnACI.1764-1489.241.
6. Xu Xu. Blood and local eosinophil levels in chronic rhiritit: Observation during seasonal allergen exposure and non – exposure. World Allergy Orgnization Journal. 2024. 17 (100930), 1-14, doi: 10.1016/j.waojou.2024.100930.
7. Phạm Nguyễn Hải Hồ. Tỷ lệ các dị nguyên được phát hiện bằng kỹ thuật thấm miễn dịch và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân dị ứng điều trị tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ năm 2020. 2021. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 41/2021,167-75, https://tapchi.ctump.edu.vn/index.php/ctump/article/view/772.
8. Lương Thị Minh Thúy. Đặc điểm IgE đặc hiệu dị nguyên ở trẻ em viêm da cơ địa. Tạp chí Da liễu học. 2023. 41 (11/2023), 56-64, doi: 10.56320/tcdlhvn.41.117.
9. Trần Nguyễn Anh Thư. Nồng độ IgE huyết thanh toàn phần và đặc hiệu trên bệnh nhân viêm da cơ địa tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ. Tạp Chí Da liễu học Việt Nam. 2022. 38 (12/2022), 61-74, doi:10.56320/tcdlhvn.38.41.
10. Nguyễn Song Hào. Xác định một số dị nguyên thường gặp trên bệnh nhân viêm mũi dị ứng bằng Panel test 60 dị nguyên tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023. 532 (1B), 275-279, doi: 10.51298/vmj.v532i1B.7543.