NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN MÀY ĐAY MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ VÀ BỆNH VIỆN DA LIỄU CẦN THƠ NĂM 2024-2025

Nguyễn Thị Thùy Trang1, , Ngô Đức Anh1, Dương Trung Kiệt1, Nguyễn Đức Thành Công1, Lê Thị Thanh Ngân1, Nguyễn Thị Phượng1
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Mày đay mạn tính là những trường hợp bệnh tiến triển thất thường, thương tổn tái phát từng đợt, ngày một vài lần hoặc một hai ngày phát bệnh một lần. Mày đay mạn tính thường không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, dẫn đến sự giảm sút về sức khỏe tinh thần và thể chất. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 45 bệnh nhân được chẩn đoán mày đay mạn tính tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ. Kết quả: Tuổi thường gặp nhất là từ 18 đến 40 tuổi 37,8%, nữ giới mắc nhiều hơn 57,8%. Triệu chứng ngứa và sẩn phù 71,1%, đau bụng 35,6%, phù mạch 31,1%, buồn nôn 26,7%, sốt 17,8%. Vị trí xuất hiện ngứa và sẩn phù phổ biến nhất là thân mình 46,9%, tay 37,5%, đầu mặt cổ 9,4%, chân 6,3%. Triệu chứng xuất hiện không cố định 90,6%, ban đêm 6,3% và ban ngày 3,1%. Mức độ ảnh hưởng cuộc sống ở mức trung bình 68,9%, mức độ ít 26,7% và mức độ nặng 4,4%. Bệnh nhân thiếu máu 24,4%. Số lượng bạch cầu tăng 15,6%, trong đó chủ yếu là bạch cầu ưa a xít 15,6%. Kết luận: Triệu chứng ngứa và sẩn phù 71,1%, xuất hiện ở thân mình 46,9%, thời điểm xuất hiện không cố định 90,6%, ảnh hưởng cuộc sống mức độ trung bình 68,9% theo thang điểm CU-Q2oL. Thiếu máu 24,4%, bạch cầu ưa acid tăng 15,6%. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Huỳnh Thị Như Huyền, Huỳnh Thị Xuân Tâm. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân mày đay mạn tính. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024. 545 (2), 110-114, 10.51298/vmj.v545i2.12246.
2. Nguyễn Thị Liên. Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm helicobacter pylori ở bệnh nhân mày đay mạn và hiệu quả điều trị bằng phác đồ ba thuốc diệt vi khuẩn. Viện nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng 108. 2019. 17 (6), 1-2.
3. Bộ Y tế. Hướng dẫn Chẩn đoán và điều trị các bệnh Da liễu. 2023.
4. Nguyễn Thị Thùy Trang. Nghiên cứu nồng độ IgE huyết thanh toàn phần và đặc hiệu trên bệnh nhân mày đay tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ năm 2022. Bệnh viện Da liễu Cần Thơ. 2022. 64.
5. Nguyễn Hoàng Vân. Một số đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Quân Y 103 năm 2021-2022. Tạp chí Y Dược học Quân sự. 2022. 47 (7), 91-100, 10.56535/jmpm.v47i7.78.
6. Jáuregui I, FJ Ortiz de Frutos, M Ferrer, et al. Assessment of Severity and Quality of Life in Chronic Urticaria. J Investig Allergol Clin Immunol. 2014. 24, 84-86.
7. Ngô Thị Hồng Hạnh và CS. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh mày đay mạn tính cảm ứng. Tạp chí Y Học Việt Nam. 2023. 527(1B), 26-30, 10.51298/vmj.v527i1B.5729.
8. Sharma P, Shah A, Khanapara V, Sahu S, Jain A, Patidar T. Study of prevalence of iron deficiency anaemia in chronic urticaria. J Population Ther Clin Pharmacol. 2014. 31(2), 28752880, DOI:10.53555/jptcp.v31i2.4792.