NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SÓT SỎI ĐƯỜNG MẬT BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÁN SỎI ĐIỆN THỦY LỰC QUA ĐƯỜNG HẦM KEHR TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ NĂM 2020-2021

Huỳnh Dương Hữu Hạnh1, , Nguyễn Văn Lâm2, Nguyễn Văn Tống2
1 Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ
2 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Sỏi đường mật trong gan hay gặp ở người Việt Nam và một số nước khác vùng Đông Á, tuy nhiên, việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ sót sỏi và sỏi tái phát cao, đặc biệt khi có viêm chít hẹp đường mật. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị sỏi đường mật được điều trị bằng nội soi tán sỏi điện thủy lực qua đường hầm Kehr tại Bệnh viện Đa Khoa Trung ương Cần thơ từ tháng 5/2020 – tháng 1/2021. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang, hồi cứu, tiến cứu, không đối chứng trên 53 bệnh nhân sỏi đường mật được nội soi tán sỏi bằng điện thủy lực qua đường hầm Kehr. Kết quả: 100% bệnh nhân đều có sỏi trong gan. Tỉ lệ sỏi trong gan 2 bên: 41,51%; khả năng tiếp cận sỏi bằng nội soi ống mềm đạt 100%; tỉ lệ sạch sỏi 86,79%; sót sỏi 13,21%. Số lần tán sỏi trung bình 1,62 ± 0,90; biến chứng 5,66% (chảy máu đường mật nhẹ). Kết luận: nghiên cứu 53 trường hợp tán sỏi điện thủy lực qua đường hầm Kehr cho thấy nội soi tán sỏi qua đường hầm Kehr có kỹ thuật đơn giản, hiệu quả cao, nhẹ nhàng đối với bệnh nhân, có thể giải quyết sót sỏi trong và ngoài gan, khả năng tiếp cận sỏi của ống soi tốt, tỉ lệ sạch sỏi cao, tỉ lệ biến chứng thấp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Tuấn Anh và Nguyễn Quang Nam (2016), Bước đầu đánh giá tính hiệu quả và an toàn của phẫu thuật nội soi điều trị sỏi đường mật mổ lại, Tạp chí y học lâm sàng, 33, tr. 24-28.
2. Trần Hoàng Ân và cs (2013), Tỉ lệ sạch sỏi của phương pháp điều trị sót sỏi đường mật trong gan qua đường hầm ống Kehr, Y học TP Hồ Chí Minh, 17 (phụ bản của số 4), tr. 59-65. 3. Võ Đại Dũng, Lê Nguyên Khôi và Đoàn Văn Trân (2015), Phẫu thuật nội soi trong điều trị sỏi đường mật trong gan, Y học TP. Hồ Chí Minh, 19(5), tr. 91-100.
4. Nguyễn Đình Hối, Nguyễn Mậu Anh (2012), Sót sỏi và còn sỏi sau mổ lấy sỏi đường mật, Sỏi đường mật, Nhà xuất bản Y học, tr. 449-441.
5. Dương Xuân Lộc, Hoàng Trọng Nhật Phương, Hồ Văn Linh và cs (2012), Hiệu quả tán sỏi điện thủy lực trong sỏi mật mổ lại, 19 (6), Tạp chí Gan mật Việt Nam, tr. 44-51.
6. Đặng Tâm, Lê Nguyên Khôi (2008), Đánh giá phương pháp lấy sỏi mật nội soi xuyên gan qua da, 20 (4), Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 274-283.
7. Trần Đình Thơ, (2006), Nghiên cứu ứng dụng siêu âm kết hợp nội soi đường mật trong mổ để điều trị sỏi trong gan, Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội.
8. Chen Y, Jiang ZJ, Wang WL et al. (2013), Management of hepatolithiasis with operative choledochoscopic freddy laser lithotripsy combined with or without hepatectomy, 12 (2), Hepatobiliary Pancreat Dis Int, pp. 160-164.
9. Hamba H, Uenishi T, Takemura S et al. (2009), Outcomes of hepatic resection for hepatolithiasis, 19 (2), The American Journal of Surgery, pp. 199-202.
10. KS Jeng (1992), Bile duct stents in the management of hepatolithiasis with longsegment intrahepatic biliary strictures, Vol 79, Br J Surg, pp. 636-666.
11. Naveen Arya, Sandra E Nelles (2004), Electrohydraulic lithotripsy in 111 patients: A safe and effective therapy for difficult bile duct stones, American Journal of Gastroenterology, pp. 2330-2334.