ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH X QUANG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY ĐẦU XA XƯƠNG CẲNG CHÂN BẰNG PHƯƠNG PHÁP KẾT HỢP XƯƠNG NẸP VÍT, CAN THIỆP TỐI THIỂU

Trần Nguyễn Anh Duy1, , Nguyễn Thành Tấn 1
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Gãy đầu xa xương cẳng chân là loại gãy thường gặp và luôn đặt ra những khó khăn, thách thức trong điều trị. Phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít can thiệp tối thiểu cho đến hiện nay, là một trong các phương pháp điều trị tối ưu nhất. Tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ, mặc dù kỹ thuật này đã được áp dụng, triển khai rộng rãi nhưng vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào để đánh giá tính hiệu quả của phương pháp này. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X quang và đánh giá kết quả điều trị gãy đầu xa xương cẳng chân bằng phương pháp kết hợp xương nẹp vít, can thiệp tối thiểu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các bệnh nhân được chẩn đoán gãy đầu xa xương cẳng chân và được phẫu thuật kết hợp xương nẹp vít bằng phương pháp can thiệp tối thiểu tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ từ tháng 03 năm 2018 đến tháng 05 năm 2020. Chúng tôi ghi nhận các đặc điểm chung về bệnh nhân, đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X quang. Kết quả điều trị gồm kết quả nắn chỉnh xương, kết quả liền xương và kết quả phục hồi chức năng. Kết quả: Độ tuổi trung bình 45,2±13,3. Gãy loại 43A1 theo AO/OTA chiếm đa số. Thời gian nằm viện trung bình 10,7±3,5 ngày. Kết quả nắn chỉnh tốt và rất tốt chiếm 98%. Thời gian liền xương trung bình là 19,1±2,9 tuần với một trường hợp can lệch và một trường hợp chậm liền xương. Kết quả phục hồi chức năng tốt và rất tốt chiếm 97,8%. Kết quả chung có tỉ lệ rất tốt và tốt là 95,6%. Kết luận: Phương pháp phẫu thuật kết hợp xương gãy đầu xa xương cẳng chân bằng nẹp vít, can thiệp tối thiểu cho kết quả điều trị sau mổ rất khả quan, có tỉ lệ lành xương và phục hồi chức năng cao, giúp bệnh nhân có thể trở lại vận động và sinh hoạt sớm.   

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Ngọc Hiếu (2016), Đánh giá kết quả điều trị kết hợp xương nẹp vít gãy đầu dưới hai xương cẳng chân do chấn thương bằng kỹ thuật MIPO tại Bệnh viện Quân y 7A, Hội nghị khoa học Bệnh viện Quân y 120 mở rộng lần thứ I năm 2017.
2. Lã Quang Thịnh (2014), Đánh giá kết quả điều trị kết hợp xương nẹp vít gãy đầu xa hai xương cẳng chân bằng kĩ thuật ít xâm lấn, Đại học Y Thái Nguyên.
3. Phan Quang Trí và cộng sự (2018), "Phác đồ điều trị gãy đầu dưới xương chày - gãy trần chày ", Phác đồ điều trị của bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, tr 142-149.
4. Charles M. Court-Brown, Nicholas D. Clement (2020), "The Epidemiology of Musculoskeletal Injury", Rockwood and Green’s Fractures in Adults, Wolters Kluwer, pp 213-317.
5. Decruz J., Antony Rex R. P., and Khan S. A. (2019), "Epidemiology of inpatient tibia fractures in Singapore - A single centre experience", Chin J Traumatol, 22(2), pp 99-102.
6. Dhakar A., et al. (2016), "Minimally Invasive Plate Osteosynthesis with Locking Plates for Distal Tibia Fractures", J Clin Diagn Res, 10(3), pp RC01-4.
7. Enes Sari, Selami Cakmak, and Fazli Levent Umur (2019), "The evaluation of results in minimally invasive plate osteosynthesis for tibial shaft and 1/3 distal tibia fractures", Annals of Medical Research. 26(9), pp 1846-1851.
8. Gülabi D., et al. (2016), "Surgical treatment of distal tibia fractures: open versus MIPO", Ulus Travma Acil Cerrahi Derg, 22(1), pp 52-7.
9. Meinberg E. G., et al. (2018), "Fracture and Dislocation Classification Compendium-2018", J Orthop Trauma. 32 pp S56-S60.
10. R.M. Mallikarjuna Reddy, Alla Vasanth Kumar, and Tajuddin Shaik (2019), "Outcome of distal tibia fractures managed with locking compression plate using MIPPO technique", International Journal of Orthopaedics Sciences, 5(3), pp 304-310.
11. Wennergren D., et al (2018), "Epidemiology and incidence of tibia fractures in the Swedish Fracture Register", Injury, 49(11), pp 2068-2074.