ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIẢI PHẪU BỆNH VÀ CHĂM SÓC HẬU PHẪU SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG PHẢI TẠI CẦN THƠ NĂM 2018 – 2020
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng nói chung và đại tràng phải nói riêng có nhiều ưu điểm và đã được áp dụng tại Việt Nam từ năm 2002. Tuy nhiên, tại Cần Thơ vẫn còn ít nghiên cứu về vấn đề này. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả giải phẫu bệnh và chăm sóc hậu phẫu những bệnh nhân được phẫu thuật nội soi ung thư đại tràng phải. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu trên 54 bệnh nhân được phẫu thuật cắt đại tràng phải nội soi tại Bệnh viện Ung Bướu thành phố Cần Thơ, Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ, Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ từ năm 2018-2020. Dữ liệu thu thập được được phân tích bằng phần mềm spss 20.0, giá trị p<0,05 có ý nghĩa về mặt thống kê. Kết quả: Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ cho kết quả tất cả đều thuộc nhóm carcinoma tuyến, đa số phân loại u nguyên phát là T4 với 31 ca (57,5%), u biệt hóa mức độ trung bình chiếm đa số với 79,6%, hạch vùng N0 chiếm tỷ lệ cao nhất 63,0%. Đa số bệnh nhân được chẩn đoán giai đoạn III sau mổ (57,4%). Hậu phẫu ghi nhận 07 trường hợp nhiễm trùng vết mổ, 03 trường hợp chảy máu sau mổ và 01 trường hợp viêm phổi kèm nhiễm trùng vết mổ. Sự khác biệt về tỷ lệ biến chứng trong các nhóm ASA khác nhau mang ý nghĩa thống kê (p=0,001) với nhóm ASA III có 06 trường hợp biến chứng. Có sự khác biệt rõ rệt về thời gian nằm viện sau mổ ở nhóm bệnh nhân 60 tuổi trở lên so với nhóm dưới 60 tuổi (p=0,013). Tất cả bệnh nhân đều được điều trị nội khoa và vượt qua giai đoạn hậu phẫu. Kết luận: Dựa trên kết quả giải phẫu bệnh sau mổ xếp giai đoạn 54 bệnh nhân gồm 5,6% giai đoạn I, 37,0% giai đoạn II và giai đoạn III chiếm tỷ lệ cao nhất với 57,4%. Phân loại ASA càng cao thì biến chứng sau mổ càng nhiều. Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên nằm viện lâu hơn bệnh nhân duới 60 tuổi.
Từ khóa
phẫu thuật nội soi, ung thư đại tràng phải, theo dõi sau mổ
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Huỳnh Quyết Thắng (2007), "Điều trị ung thư đại tràng giai đoạn II-III tại bệnh viện Ung Bướu Cần Thơ", Y học TP Hồ Chí Minh, 13 (1), tr. 177-186.
3. Arezzo A, Passera R, Ferri V et al (2015), "Laparoscopic right colectomy reduce short-term mortality and morbidity: Results of a systematic review and meta-analysis", Int J Colorectal Dis, 30(11), pp. 1457-1472.
4. Baker RP, Titu LV, Hartley JE et al (2004), "A case-control study of laparoscopic right hemicolectomy vs open right hemicolectomy", Dis Colon Rectum, 47, pp. 1675-1679.
5. Delaney C. P, Lawrence J. K, Keller D. S et al (2014), "Laparoscopic right hemicolectomy", Operative techniques in laparoscopic colorectal surgery, 2nd edition, Lippincott Williams & Wilkins, pp. 55-64.
6. Ding J, Liao G. Q, Xia Y et al (2013), "Medival versus lateral approach in laparoscopic colorectal resection: a systematic review and meta-analysis, World J Surg, 37(4), pp. 863-872.
7. Dulucq J. I. (2005), "Laparoscopic right colectomy", Tips and techniques in laparoscopic surgery, Spinger – Verlag, Berlin, pp. 137-148.
8. El-Gazz G, Hutt T, Hammel et al (2010), "Does a laparoscopic approach effect the number lymph nodes harvested during curative surgery for colorectal cancer", Surg Endose, 24, pp. 113-118.
9. Guilou P, Quirke P, Thorpe H et al (2005), "Short-term endpoints of conventional versus laparoscopic-assisted surgery in patients with colorectal cancer (MRC CLASSIC trial): multicenter, randomized controlled trial", Lancet, 365, pp. 1718-1726.
10. Okuda J, Nobuhiko T (2006), "Right colectomy", Laparoscopic colorectal surgery, 2nd edition, Springer, pp. 128-144.
11. Veldkamp R, Kuhrv E, Hop W. C et al (2005), "Colon cancer laparoscopic or open resection study group (COLOR), Laparoscopic surgery versus open surgery for colon cancer: short-tearm outcomes of a randomised trial", Lancer oncol, 6(7), pp. 477-484.