NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X QUANG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT GÃY XƯƠNG HÀM DƯỚI BẰNG NẸP VÍT NHỎ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ NĂM 2019-2020

Nguyễn Tuấn Kiệt1, , Lâm Nhựt Tân2, Huỳnh Văn Dương3
1 Trường Cao đẳng Y Tế Cần Thơ
2 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
3 Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương TP. Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Gãy xương hàm dưới là phần quan trọng trong chấn thương mặt, và việc chẩn đoán, điều trị chấn thương này vẫn là thách thức cho thầy thuốc với sự cải tiến về kỹ thuật điều trị. Sử dụng nẹp vít nhỏ để tái tạo lại cấu trúc xương hàm trước gãy có thể mang lại hiệu quả khả quan, nhưng chưa được báo đầy đủ ở Cần Thơ trong thời gian gần đây. Mục tiêu nghiên cứu: Bài báo này nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, x quang và đánh giá kết quả kết hợp xương hàm dưới bằng nẹp vít nhỏ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và can thiệp lâm sàng không nhóm chứng trên 50 ca gãy xương hàm dưới được kết hợp xương bằng nẹp vít nhỏ. Thông tin thu thập gồm tê môi dưới, khớp cắn, vị trí gãy.  Kết quả điều trị được đánh giá lúc xuất viện, sau mổ 3, 6 tháng. Kết quả: Tê môi dưới chiếm 48,0%. Tất cả bệnh nhân có đau, sai khớp cắn và há miệng hạn chế. Tỷ lệ gãy 1, 2, và trên 2 đường là 46,0%, 40,0% và 14,0%. Gãy cằm, góc hàm, cành ngang, và kiểu kết hợp chiếm 50,0%, 10,0%, 6,0%, và 34,0%. Tỉ lệ trường hợp được cố định bằng 1, 2, và >2 nẹp là 12,0%, 54,0%, và 34,0%. Kết quả điều trị khá và tốt có tỉ lệ là 74,0% và 26,0%. Kết luận: Đặc điểm lâm sàng và x quang có vai trò quan trọng trong chẩn đoán gãy xương hàm dưới. Sử dụng nẹp vít nhỏ để điều trị bệnh lý này có thể mang lại kết quả khả quan cho bệnh nhân.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Nguyễn Thanh Chơn (2016), Điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới bằng kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hỗ trợ, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Hồ Nguyễn Thanh Chơn, Lâm Hoài Phương (2007), “Đánh giá hiệu quả điều trị gãy xương hàm dưới bằng hệ thống nẹp- vít nén”, Tạp chí Y học Tp. Hồ Chí Minh, tập 11 (2), tr. 252-257.
3. Trần Quốc Khánh (2013), Nghiên cứu áp dụng nẹp vít tự tiêu trong điều trị gãy xương hàm dưới, Luận án tiến sĩ Y học, Trường đại học Y Hà Nội.
4. Trương Nhựt Khuê, Trần Linh Nam, Nguyễn Bá Trí (2011), “Kết hợp xương nẹp vít nhỏ điều trị gãy xương hàm dưới tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ”, Tạp chí Y học thực hành (760), Số 4/2011, tr. 41-44.
5. Trần Minh Triết, Trương Nhựt Khuê (2018), “Đánh giá kết quả điều gãy phức tạp xương hàm dưới vùng cằm bằng nẹp vít nhỏ tại bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ”, Tạp chí Y dược Cần Thơ, Số 16/2018, tr. 1-6.
6. Lê Phong Vũ, Lê Đức Lánh (2011), “Dịch tễ lâm sàng và điều trị gãy xương hàm dưới tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang từ năm 2006 đến 2010”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, Tập 15 phụ bản số 2/2011, tr. 208-212.
7. Kumar GB, Dhupar V, Akkara F, Kumar SP (2015), “Patterns of maxillofacial fractures in goa”, J Maxillofac Oral Surg, 14(2), pp. 138-41.
8. Sunita Malik, Gurdarshan Singh, Gagandeep Kaur (2017), “Orofacial trauma in rural India: A clinical study”, Chin J Traumatol. 20(4), pp. 216–221.
9. Y. Nabil (2016), "Evaluation of the effect of different mandibular fractures on the temporomandibular joint using magnetic resonance imaging: five years of follow-up", Int. J. Oral Maxillofac. Surg, 45(11), pp. 1495-1499.
10. John S. Vorrasi, et al (2018), “Diagnosis and Management of Mandible Fractures”. In: Fonseca, Raymond J, et al. Oral and Maxillofacial Surgery. 3rd, Vol 2. Elsevier, Inc. St. Louis, Missouri, USA, pp. 146-173.
11. Yi-Tzu Chen, Yu-Wei Chiu, et al (2020), “Ten-year retrospective study on mandibular fractures in central Taiwan”. J Int Med Res. 48(7), pp. 1-8.