NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỔ LẤY THAI Ở CÁC SẢN PHỤ NHÓM III THEO PHÂN LOẠI ROBSON

Trần Thị Anh Thơ1, , Trần Khánh Nga2, Vũ Đăng Khoa3
1 Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất - Đồng Nai
2 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
3 Bệnh viện Phụ Sản thành phố Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Hệ thống phân loại Robson hỗ trợ kiểm soát và tối ưu hóa thực hành sản khoa. Nhóm III trong hệ thống phân loại Robson là nhóm có tiên lượng tốt, nguy cơ biến chứng thấp và thường được khuyến khích sinh ngả âm đạo. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai trong nhóm III đang gia tăng. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm chung, một số yếu tố liên quan và so sánh kết cục thai kỳ trong nhóm III theo phân loại Robson. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh trên 357 thai phụ nhóm III theo phân loại Robson tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai trong thời gian từ tháng 5/2025 đến tháng 2/2026. Kết quả: Tuổi trung bình của thai phụ là 31,6 ± 5,2, thai phụ < 35 tuổi chiếm ưu thế (71,4%). Tỷ lệ mổ lấy thai chiếm 15,7%. Tỷ lệ thai phụ ≥ 35 tuổi ở nhóm mổ lấy thai (46,4%) cao hơn so với nhóm sinh thường (25,2%) (p < 0,001). Nhóm mổ lấy thai có tỷ lệ tuổi thai ≥ 42 tuần, cân nặng trẻ ≥ 3500 g và chăm sóc tại NICU cao hơn so với nhóm sinh thường (p<0,05). Điểm Apgar ở nhóm mổ lấy thai thấp hơn so với nhóm sinh thường (p < 0,001). Thời gian nằm viện ở nhóm mổ lấy thai dài hơn so với nhóm sinh thường (4,9 ± 1,3 so với 3,5 ± 1,4; p < 0,001). Kết luận: Tuổi mẹ ≥ 35, tuổi thai ≥ 42 tuần và cân nặng sơ sinh ≥ 3500 g có mối liên quan với mổ lấy thai trong nhóm III Robson. Tăng tỷ lệ nhập NICU, giảm chỉ số Apgar và kéo dài thời gian nằm viện có liên quan với phương thức chấm dứt thai kỳ và tình trạng thai trước sinh. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Ngô Trần Minh Thiện, Trần Văn Đủ, Nguyễn Quốc Đạt, Võ Minh Tuấn. Tỷ lệ mổ lấy thai và mối liên quan với người đồng hành cùng thai phụ trong chuyển dạ tại Bệnh viện Hùng Vương. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024. 541(1), 358-364. doi: 10.51298/vmj.v541i1.10694.
2. Giaxi P., Gourounti K., Vivilaki V.G., Lykeridoy K. Which classification system could empower the understanding of caesarean section rates in Greece? A review of systematic reviews. Eur J Midwifery. 2022. 6, 39. doi: 10.18332/ejm/147993.
3. Lê Thị Thùy Dung, Hồ Thị Thu Hằng, Phan Hữu Thúy Nga, Lê Thị Gái. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan của mổ lấy thai nhóm III theo phân loại của Robson tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2021. 43, 13-20.
4. Hồ Ngọc Linh Phương, Võ Thị Lan Anh, Nguyễn Phương Anh, Hồ Thị Oanh, Hoàng Trung Bách và cộng sự. Mong muốn về phương pháp sinh và một số yếu tố liên quan ở sản phụ thai đủ tháng tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2025. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2025. 66(23), 306-312. doi: 10.52163/yhc.v66iCD23.3953.
5. Okonta P.I., Fajola A., Umejiego C. An analysis of caesarean sections in a community cottage hospital in Nigeria's Niger Delta using the Robson classification. Niger Med J. 2022. 63(2), 91–97.
6. Chaudhary R., Yadav N., Singh S., Dhama V., Rastogi K. Analysis of caesarean section through Robson classification system: An emerging concept to audit the increasing caesarean section rate. Int J Gynaecol Sci. 2024. 6(1), 1–8. doi:10.33545/26648393.2024.v6.i1a.24.
7. Ravi K., Palaniappan S. Prevalence and clinical predictors of caesarean vs vaginal deliveries: A Robson-based evaluation in a tertiary care setting in rural Tamil Nadu, India. Indian J Obstet Gynecol Res. 2026. 13(1), 62–71. doi:10.18231/j.ijogr.11896.1764829654.
8. Buyuk G.N., Kansu-Celik H., Kaplan Z.A.O., Kisa B., Ozel S., et al. Risk Factors for Intrapartum Cesarean Section Delivery in Low-risk Multiparous Women Following at Least a Prior Vaginal Birth (Robson Classification 3 and 4). Rev Bras Ginecol Obstet. 2021. 43(6), 436441. doi: 10.1055/s-0041-1731378.
9. Vương Thị Hường, Nguyễn Mạnh Thắng. Tình hình mổ lấy thai theo phân loại Robson tại Bệnh viện Đa khoa huyện Chương Mỹ. Vietnam J Community Med. 2023. 64(6), 233–240. doi:10.52163/yhc.v64i6.837.