HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA KẾT HỢP GÂY TÊ TỦY SỐNG, GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG VÀ GÂY MÊ TOÀN THỂ TRONG VÀ SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐẠI – TRỰC TRÀNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Phối hợp CSE và gây mê toàn thể giúp giảm liều thuốc á phiện và nồng độ thuốc mê hơi trong lúc mổ, ổn định huyết động tốt hơn, giảm đau hiệu quả hơn, có thể thức tỉnh sớm hơn, cho phép rút ống nội khí quản sớm và giảm được các tai biến do đau và gây mê sâu. Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá hiệu quả giảm đau và tác dụng phụ của CSE và gây mê toàn thể trong và sau phẫu thuật nội soi đại – trực tràng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả, cắt ngang được thực hiện trên 62 bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật nội soi đại – trực tràng tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trong thời gian từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018. Kết quả: tại bất kỳ thời điểm nào sau phẫu thuật khi BN vận động đều có thể có nhu cầu thêm thuốc giảm đau (VAS 4 điểm). Khi BN nằm yên: nhu cầu thêm thuốc giảm đau chỉ xuất hiện tại thời điểm 1 giờ hoặc 2 giờ sau phẫu thuật. Tác dụng phụ: Tụt HA chiếm tỷ lệ cao nhất với 46,77%. Tăng EtCO2 chiếm 41,94%, thường sau khi bơm CO2 30 phút, 60 phút và lúc kết thúc phẫu thuật. Ngoài ra, chậm nhịp tim chiếm 19,35%, tăng HA 8,06%. Có 1 trường hợp bị co thắt KPQ trong phẫu thuật, chiếm 1,61%. Kết luận: Phối hợp CSE và gây mê toàn thể là phương pháp vô cảm an toàn, hiệu quả giảm đau kéo dài và nên được áp dụng thường quy cho các trường hợp phẫu thuật nội soi đại – trực tràng.
Từ khóa
gây tê tủy sống phối hợp gây tê ngoài màng cứng, phẫu thuật nội soi đại - trực tràng
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Lê Huy Lưu, Đỗ Thị Thu Phương, Ngô Quang Duy và cộng sự (2016), Phẫu thuật cắt đại tràng nội soi với phẫu thuật lưu thông hoàn toàn trong ổ bụng. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 20 (Số 6), tr.110-115.
3. Phạm Văn Năng (2014), "Nghiên cứu kết quả cắt đại trực tràng nội soi trong điều trị ung thư đại - trực tràng", Đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Trường, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.
4. Phan Tôn Ngọc Vũ (2012), "Nghiên cứu hiệu quả giảm đau của kết hợp gây tê ngoài màng cứng với gây mê toàn thể trong và sau phẫu thuật nội soi đại-trực tràng", Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Trần Đỗ Anh Vũ, Hà Ngọc Chi, Nguyễn Thị Thanh Trúc, Nguyễn Văn Chừng (2018), Hiệu quả giảm đau của lidocaine truyền tĩnh mạch trong phẫu thuật cắt đại tràng nội soi. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 22 (Số 3), tr. 174-180.
6. Pirrera B., Alagna V., Lucchi A., at al (2018), Transversus abdominis plane (TAP) block versus thoracic epidural analgesia (TEA) in laparoscopic colon surgery in the ERAS program. Surg Endosc, 32 (1), 376-382.
7. Sinan Uzman (2017), Combined spinal-epidural anesthesia in laparoscopic appendectomy: a prospective feasibility study. Annals of Surgical Treatment and Research, vol 92 (4), pp. 208-213.
8. Higashino N., Matsuda T., Hasegawa H., at al (2020), Outcomes of Laparoscopic Surgery in Colorectal Cancer Patients With Dialysis. Anticancer Res, 40 (4), 2165-2170.
9. Mouawad N. J., Leichtle S. W., Kaoutzanis C., at al (2018), Pain control with continuous infusion preperitoneal wound catheters versus continuous epidural analgesia in colon and rectal surgery: A randomized controlled trial. Am J Surg, 215 (4), 570-576.
10. Turi S., Gemma M., Braga M., at al, Perioperative Italian Society Eras Italian Chapter (2019), Epidural analgesia vs systemic opioids in patients undergoing laparoscopic colorectal surgery. Int J Colorectal Dis, 34 (5), 915-921.