KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỚM 80 TRƯỜNG HỢP TÁN SỎI NGOÀI CƠ THỂ SỎI NIỆU QUẢN 1/3 TRÊN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: tán sỏi ngoài cơ thể sỏi niệu quản đoạn 1/3 trên thực hiện dễ dàng, với tư thế nằm ngửa, đầu phát sóng chấn động đặt vùng hông lưng, từ phía sau, sóng chấn động đi qua vùng cơ thắt lưng và không bị làm nhiễu bởi hơi của ruột, nên dễ dàng tiếp cận viên sỏi và làm vỡ sỏi. Mục tiêu nghiên cứu: khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm điều trị tán sỏi ngoài cơ thể sỏi niệu quản 1/3 trên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: đối tượng: những bệnh nhân có sỏi niệu quản 1/3 trên có kích thước ≤ 15mm, được điều trị bằng tán sỏi ngoài cơ thể tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ 1/2019 đến 10/2020; phương pháp nghiên cứu: tiến cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: tổng cộng có 80 TH.Tuổi nhỏ nhất: 18 tuổi, lớn nhất: 78 tuổi, trung bình: 58,4 20,6 tuổi, triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là đau hông lưng (70%), trong đó đau quặn thận chiếm 52,5%, chưa ảnh hưởng nhiều đến chức năng thận, đa số là sỏi cản quang vừa, kích thước sỏi trung bình 11.3mm. Tỷ lệ thành công chung là 87,5%. Tỷ lệ thành công cộng dồn cho một lần tán là 51,5%, cho 2 lần tán là 68,9%, 3 lần tán là 86,7%,4 lần tán là 88,6% trung bình 2,3 lần tán cho mỗi TH,có 80% chỉ đau mức độ nhẹ,da vùng tán thường đỏ thoáng qua. Biến chứng thường gặp nhất là mảnh sỏi vỡ rơi xuống tắc niệu quản đoạn chậu (27%) và gây đau quặn thận (15%), 95% có tiểu máu ngay sau tán sỏi và tự hết. Kết luận: phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể điều trị sỏi niệu quản 1/3 trên với tỷ lệ thành công cao (87,5%), ít xâm lấn nhất, và không cần vô cảm kết hợp,... là rất cần được nhân rộng điều trị cho bệnh nhân.
Từ khóa
sỏi niệu quản, tán sỏi ngoài cơ thể, ESWL
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Trà Anh Duy (2011), Vai trò của phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể trong điều trị sỏi niệu quản đoạn lưng, Y học TP. Hồ Chí Minh, 15(3), tr.130 – 135.
3. Trần Văn Hinh (2013), Chiến lược điều trị sỏi tiết niệu và điều trị sỏi tiết niệu bằng nội khoa, Các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh sỏi tiết niệu, NXB Y học, Hà Nội, tr. 140-148.
4. Nguyễn Văn Khoa, Nguyễn Văn Sách (2010), Kết quả bước đầu điều trị sỏi niệu bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể tại bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang, Y học TP. Hồ Chí Minh, 14(3).
5. Grabe M, Cai T (2017), Guidelines on Urological Infections. European Association of Urology, pp. 657-776.
6. Joshi H.N., Shrestha B., Karmacharya R.M., Makaju S., Koju R., Gyawali D. (2017), Management of Proximal Ureteric Stones: Extracorporeal Shock Wave Lithotripsy (Eswl) Versus Ureterorenoscopic Lithotripsy (URSL), Kathmandu University Medical Journal, 60(4), pp.348-351.
7. Pirincci N, Gecit I, Bilici S, Taken K, Tanik S, Ceylan K (2012), The effectiveness of extracorporealshock wave lithotripsy in the treatment of ureteral stones in children, European Review for Medical and Pharmacological Sciences, 16, pp. 1404-1408.
8. Turk C, Skolarikos A, Neisius A, Petrik A, Seitz C, Thomas K (2019), Urolithiasis, European Association of Urology Guidelines, EAU guideline Office.