NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THIẾU MÁU Ở TRẺ SUY DINH DƯỠNG ĐANG HỌC TIỂU HỌC TẠI HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2020

Nguyễn Minh Phương1, , Trần Xuân Diệu2
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Trung tâm Y tế huyện Trần Đề

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

 Đặt vấn đề: suy dinh dưỡng và thiếu máu trẻ em vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng, là tình trạng phổ biến ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ, mức độ và đặc điểm thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ suy dinh dưỡng đang học tiểu học tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng năm 2020. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 293 trẻ em suy dinh dưỡng từ 6 đến 10 tuổi đang học tiểu học tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng từ tháng 6/2020 đến tháng 12/2020. Trẻ suy dinh dưỡng khi chỉ số Z-Score BMI theo tuổi < -2SD theo tiêu chuẩn của WHO 2007. Dựa vào nồng độ huyết sắt tố (g/L) để chẩn đoán thiếu máu ở trẻ theo tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu của WHO (2011). Xử lý số liệu bằng SPSS 18.0. Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu là 22,87%, trong đó mức độ thiếu máu nhẹ là 61,19%, thiếu máu vừa là 38,81%. Bé trai và bé gái có tỷ lệ thiếu máu lần lượt là 49,25% và 50,75%. Tỷ lệ thiếu máu cao nhất là 26,87% ở trẻ 8 tuổi, tỷ lệ thấp nhất là 11,94% ở trẻ 10 tuổi. Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ 9, 6, 7 tuổi lần lượt là 16,42%, 19,40% và 25,37%. Kết luận: Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ suy dinh dưỡng vẫn còn cao, cần có những chính sách đặc biệt quan tâm lứa tuổi trẻ suy dinh dưỡng cấp học tiểu học.   

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Huỳnh Văn Sơn và cộng sự (2016), Thực trạng thiếu máu thiếu sắt và thấp còi ở học sinh tiểu học tỉnh Quảng Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học, Sở KH&CN tỉnh Quảng Nam, Quảng Nam.
2. Nguyễn Thị Tiến, Nguyễn Văn Hùng, Võ Văn Thắng (2012), “Nghiên cứu thực trạng thiếu máu và các yếu tố liên quan ở trẻ em dân tộc Ê Đê tỉnh Đắk Lắk năm 2012”, Tạp chí Y học thực hành, YHTH (880), tr. 137 – 143.
3. Viện Dinh dưỡng Quốc Gia - UNICEF (2012), Báo cáo tóm tắt tổng điều tra dinh dưỡng năm 2009 - 2010, NXB Viện Dinh dưỡng Quốc gia, Hà Nội.
4. Hoang, N. T., Orellana, L., Le, T. D., Gibson, R. S., Worsley, A., Sinclair, A. J., ... & Szymlek-Gay, E. A. (2019), “Anaemia and its relation to demographic, socio-economic and anthropometric factors in rural primary school children in Hai Phong City, Vietnam”, Nutrients, 11(7), 1478.
5. Le, H. T., Brouwer, I. D., Verhoef, H., Nguyen, K. C., & Kok, F. J. (2007), “Anemia and intestinal parasite infection in school children in rural Vietnam”, Asia Pacific Journal of Clinical Nutrition, 16(4).
6. Legason, I. D., Atiku, A., Ssenyonga, R., Olupot-Olupot, P., & Barugahare, J. B. (2017), “Prevalence of Anaemia and associated risk factors among children in North-Western Uganda: a cross sectional study”, BMC hematology, 17(1), 10.
7. Ngui, R., Lim, Y. A. L., Kin, L. C., Chuen, C. S., & Jaffar, S. (2012), “Association between anaemia, iron deficiency anaemia, neglected parasitic infections and socioeconomic factors in rural children of West Malaysia”, PLoS neglected tropical diseases, 6(3).
8. Tariku, E. Z., Abebe, G. A., Melketsedik, Z. A., Gutema, B. T., Megersa, N. D., Sorrie, M.
B., ... & Getahun, E. A. (2019), “Anemia and its associated factors among school-age children living in different climatic zones of Arba Minch Zuria District, Southern Ethiopia”, BMC hematology, 19(1), 6.
9. WHO (2009), Anthro Plus for Personal Computers Manual: Software for Assessing Growth of the World’s Children and Adolescents. Geneva, Switzerland: World Health Organization.
10. WHO (2011), Haemoglobin concentrations for the diagnosis of anaemia and assessment of severity, World Health Organization, 2011 (WHO/NMH/NHD/MNM/11.1), Geneva.
11. World Health Organization. (2011). Prevention of iron deficiency anaemia in adolescents (No. SEA-CAH-02). WHO Regional Office for South-East Asia.