TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ DỊ VẬT THỰC QUẢN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG NĂM 2020
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Dị vật thực quản (DVTQ) là tai nạn thường gặp trong cấp cứu Tai Mũi Họng. Ở Việt Nam dị vật thực quản gặp nhiều hơn dị vật đường thở. Dị vật có thể gây khó thở hoặc suy hô hấp cho bệnh nhân. Nếu không phát hiện sớm và xử trí kịp thời có thể gây viêm nhiễm và nguy hiểm tính mạng. Mục tiêu nghiên cứu: 1) Tìm hiểu nguyên nhân, loại dị vật và mô tả đặc điểm các giai đoạn của bệnh nhân mắc dị vật thực quản. 2) Đánh giá kết quả điều trị DVTQ tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang 61 bệnh nhân mắc dị vật thực quản điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2020. Bệnh nhân được xử trí lấy DVTQ bằng ống soi cứng. Kết quả: Bệnh nhân mắc DVTQ có lứa tuổi từ 31 – 59 tuổi chiếm cao nhất (55,7%). Nguyên nhân chính gây mắc dị vật là do ăn nhanh nuốt vội (44,3%). Loại dị vật mắc chủ yếu là xương cá (44,3%), vị trí mắc dị vật thường gặp nhất là thực quản cổ (65,6%). Đa số bệnh nhân đã xử trí trước khi vào viện (78,8%), và vào viện ở giai đoạn có biến chứng (3,3%). 97% bệnh nhân mắc DVTQ có kết quả điều trị tốt. Kết luận: Đa số bệnh nhân DVTQ được xử trí lấy dị vật bằng ống soi cứng có kết quả tốt. Cần tuyên truyền nâng cao nhận thức mọi người dân về sự nguy hiểm khi mắc DVTQ.
Từ khóa
dị vật, thực quản
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Trần Việt Hồng (2013), Nhận xét tình hình dị vật thực quản và kết quả điều trị tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Kỷ yếu hội nghị khoa học tai mũi họng toàn quốc lần thứ XVI, tr. 171 - 178.
3. Dương Hữu Nghị, Châu Chiêu Hòa, Đặng Quốc Thái (2018), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị dị vật thực quản tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ, Tạp chí Y Dược Học Cần Thơ - Số 11, tr. 165 - 170.
4. Ngô Ngọc Liễn (2006), Sơ lược giải phẫu và sinh lý thực quản”, Giản yếu bệnh học tai mũi họng, NXB y học, tr. 376 - 378.
5. Nguyễn Tư Thế (2005), Đánh giá dịch tễ và đặc điểm lâm sàng bệnh nhân bị dị vật đường ăn vào khám và điều trị tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Trung ương Huế, Tạp chí khoa học y học Huế .
6. Trần Minh Trường (2009), Đánh giá lâm sàng và kết quả lấy dị vật thực quản bằng ống nội soi cứng tại Bệnh viện Chợ rẫy từ 2002- 5/2008, Tạp chí y học thực hành, Bộ y tế xuất bản, Hà nội, (2), tr. 114-116.
7. Lai AT, Chow LT, Lee DT, Kwok SP (2003), Risk factors predicting the devenlopment of complications after foreign body ingestion, Br J Surg, 90(12), pp. 1531-1535.
8. Shui Feng et al. (2020), Management of sharp – pointed esophageal foreign body impaction with rigid endoscopy: a retrospective study of 130 adult patients, Ear nose throat J.; 99(40:251-258).
9. Kenji JL Limpias Kamiya, Naoki Hosoe (2020), Endoscopic removal of foreign bodies: A retrospective study in Japan, World J Gastrointest Endosc., 12(1): 33-41.
10. K.S. Loh, et al. (2000), Complications of foreign bodies in the esophagus, Otolaryngol. Head. Neck Surg., 123 (5), pp. 613-616.
11. Mohammad Maqbool, Suhail Maqbool (2013), Esophagus, Textbook of ear nose and throat diseases, 12th Edition, Chapter 70, pp.291.
12. Ashraf O (2006), Foreign body in the esophagus: a review, Sao Paulo Med J, 124(6), pp. 346-349.
13. Saki N, Nikakhlagh S (2016), An overview of 11 year experience on opaque esophageal foreign bodies in adults, International Journal of Pharmaceutical Research and Allied Siences, 5(2), pp. 159-164.