XÂY DỰNG VÀ THẨM ĐỊNH QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH ĐỘ TINH KHIẾT TẠP C ALLOPURINOL BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ LỎNG VỚI ĐẦU DÒ DÃY DIOD QUANG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Xây dựng và thẩm định quy trình xác định độ tinh khiết tạp chất C của allopurinol, với độ tin cậy cao, không bị ảnh hưởng bởi sản phẩm phân hủy bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao đầu dò dãy diod quang, lần đầu tiên công trình được công bố trong nước và thế giới là một nhu cầu cấp thiết. Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng và thẩm định quy trình xác định độ tinh khiết tạp C allopurinol bằng HPLC - đầu dò dãy diod quang (HPLC-DAD). Đối tượng và
Phương pháp nghiên cứu: Quy trình xác định độ tinh khiết tạp chất C của allopurinol; phương pháp nghiên cứu xây dựng và thẩm định quy trình xác định độ tinh khiết của tạp C allopurinol bằng hệ thống sắc ký lỏng đầu dò dãy diod quang theo hướng dẫn của ICH và Sổ tay đăng ký thuốc - Bộ Y tế. Kết quả: Phương pháp HPLC với đầu dò dãy diod quang, cột Phenomenex Synergi 4u MAX-RP 80R C12 pha đảo, pha động gồm acetonitrile, acid phosphoric pH=2,0 (điều chỉnh bằng H3PO4 10%) (2:98), nhiệt độ cột 250C, tốc độ dòng 1mL/phút, bước sóng phát hiện 200 nm. Khoảng nồng độ tuyến tính 50-190µg/mL, phương trình hồi qui của tạp C allopurinol là y=324681x với R2=0,9966, p<0,005. Phương pháp cho thấy có sự tuyến tính trong khoảng nồng độ khảo sát, đạt độ chính xác, độ đúng, độ đặc hiệu, giới hạn phát hiện là 0,25µg/mL và giới hạn định lượng là 0,75µg/mL. Kết luận: Xây dựng được quy trình xác định độ tinh khiết tạp C allopurinol bằng phương pháp HPLC-DAD đạt yêu cầu theo ICH và sổ tay đăng ký thuốc. Quy trình có thể áp dụng xác định độ tinh khiết của tạp C của allopurinol tổng hợp được.
Từ khóa
tạp C allopurinol, HPLC
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Bộ Y tế (2015), Dược thư Quốc gia Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, trang 162-165.
3. Bộ Y tế (2018), Dược điển Việt Nam V. NXB Y học, Hà Nội, trang 55-58.
4. Bộ Y tế (2018), Thông tư 19/2018/TT-BYT ngày 30/08/2018, Ban hành Danh mục thuốc thiết yếu – Phụ lục 1: Danh mục thuốc hóa dược, vắc xin, sinh phẩm thiết yếu, Hà Nội.
5. British Pharmacopoeia (2018), Software.
6. Debabrata Sanyal, Jitendra Verdia, Narendra Joshi (2015), Gentoxic impurities in active pharmaceutical ingredients, European Journal of Pharmaceutical and Medical Research, 2(5), pp. 973-989.
7. ICH (2005), Q1A (R2) Stability testing of new drug substances and products. European Medicines Agency, pp. 5-16.
8. ICH (2005), Q2 (R1) Validation of analysis procesdures: Text and methodology. ICH Harmonised Tripartite Guideline, pp. 1-13.
9. Makoto Osabe, Masahiro Tohkin, Noriaki Hirayama (2016), In silico Analysis of Interactions between HLA-B*58:01 and Allopurinol-related Compounds, Chem-Bio Informatics Journal, 16(0), pp. 1-4.
10. Philip D. Gresse, Josep F. Gallelli (1968), Quantitative Analysis and Alkaline Stability Studies of Allopurinol, Journal of Pharmaceutical, 57(2), pp. 335-338.
11. Richard H. Wilep and Albert J. Hart (1953), Reaction of diformylhydrazine with aminoheterocycles, The Journal of Organic Chemistry, 18 (10), pp. 1368-1371.
12. Steven A. Benezra, T. Reney Bennett (1978), Analytical Profiles of Drug Substances, 7, The Squibb Institute for Medical Research New Brunswick, New Jersey, pp.1-17.
13. Yuan Huashing, Li Guotao, Liu Jian et al (2014), Synthesis method of allopurinol impurity C. United State patent and trademark office.