TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI CỦA BÀ MẸ CÓ CON ĐẦU TIÊN DƯỚI 2 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG

Nguyễn Thị Mỹ Linh1, , Lại Văn Nông2
1 Bệnh viện Sản Nhi An Giang
2 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

 Đặt vấn đề: Việc mang thai sớm sau sinh ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ do cơ thể chưa kịp phục hồi sau lần sinh trước. Do đó việc áp dụng biện pháp tránh thai (BPTT) ở bà mẹ có con dưới 2 tuổi là rất cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ các bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang có áp dụng các BPTT và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên, có tổng cộng 515 bà mẹ được đưa vào nhóm nghiên cứu, phỏng vấn bằng bộ câu hỏi được soạn sẵn. Tìm ra tỉ lệ và phân tích các yếu tố liên quan đến việc sử dụng các BPTT. Kết quả: Có 83,9% bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi sử dụng biện pháp tránh thai. Biện pháp sử dụng: Thuốc viên 43,9%, đặt vòng 11,7%, bao cao su 13,2%, còn lại là các biện pháp khác. Các yếu tố có liên quan đến việc áp dụng các BPTT có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê bao gồm: trình độ học vấn (OR= 1,66; 95% CI: 1,21-2,27), tuổi kết hôn (OR= 0,36; 95% CI: 0,17-0,76), nơi sinh đứa con đầu tiên (OR= 2,31; 95% CI: 1,2-4,33). Kết luận: Tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại của bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi tại thành phố Long Xuyên là 83,9%. Công tác tư vấn sử dụng các BPTT ở bà mẹ có con dưới 2 tuổi là rất cần thiết. Đáng chú ý nhất là công tác tư vấn ở những đối tượng có trình độ học vấn thấp, bà mẹ kết hôn sớm và các cơ sở y tế cần tăng cường tư vấn các bà mẹ áp dụng BPTT ngay từ khi mới sinh. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Văn Kim An, “Nghiên cứu tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai và đánh giá kết quả can thiệp cộng đồng ở các cặp vợ chồng 18-49 tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang năm 2013”, Luận văn chuyên khoa II.
2. Phạm Hồng Anh (2014) "Thực trạng tiếp cận và sử dụng các biện pháp tránh thai và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại 8 tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2013-2014”, Luận văn Thạc sĩ Y tế Công cộng, Hà Nội.
3. Bộ Y tế (2016) “Hướng dẫn quốc gia về dịch vụ sức khỏe sinh sản, năm 2016”.
4. Ngô Văn Bốn (2004), Nghiên cứu tình hình thực hiện KHHGĐ tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2003, Luận án chuyên khoa cấp II, chuyên ngành Quản lý y tế, Đại học Y - Dược Huế.
5. Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang (2012), Báo cáo kết quả thực hiện công tác DS-KHHGĐ năm 2012.
6. Hoàng Đức Hạnh, Nguyễn Thị Vân Anh, “Thực trạng kiến thức, thực hành về kế hoạch hóa gia đình của nữ công nhân một số khu công nghiệp ở Hà Nội”; Tạp chí Y học Dự phòng, Tập XXIV, số 1 (149) (2014).
7. Phạm Thị Kim Hoa (2008), Nghiên cứu tình hình thực hiện KHHGĐ tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Chuyên khoa cấp II, Đại học Y - Dược Huế.
8. Nguyễn Văn Nhanh (2011), Nghiên cứu tình hình thực hiện KHHGĐ tại huyện Duyên Hải - Trà Vinh năm 2010, Luận án Chuyên khoa cấp II, Đại học Y - Dược Huế.
9. Nguyễn Thanh Phong (2017), “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về các biện pháp tránh thai của sinh viên một số trường đại học/cao đẳng thành Phố Hà Nội và hiệu quả giải pháp can thiệp”. Luận văn Tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội.
10. Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) (2003). Điều tra ban đầu việc cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tại 12 tỉnh, Hà Nội.
11. Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) (2007). Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản tại Việt Nam, Báo cáo rà soát các nghiên cứu giai đoạn 2000 - 2005. Hà Nội.
12. Đoàn Kim Thắng (2012), “Tình hình sử dụng thuốc tiêm tránh thai tại Hà Nội: thực trạng
và giải pháp tăng cường chất lượng cung cấp dịch vụ”. Tạp chí Xã hội học số 3 (119), 2012.
13. Tổng cục Thống kê (2012), Điều tra biến động dân số và kế họach hóa gia đình thời điểm 1/4/2012, các kết quả chủ yếu, Hà Nội 12/2012, tr. 9-16, 22-40, 135-147, 156, 159, 197, 233.