NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CHẤN THƯƠNG VÀ KẾT QUẢ XỬ TRÍ CẤP CỨU BỆNH NHÂN BỊ TAI NẠN GIAO THÔNG TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 121 NĂM 2019-2020

Nguyễn Trung Kiên1, , Phạm Thị Tâm2
1 Bệnh viện Quân y 121
2 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

 Đặt vấn đề: Nhằm nâng cao khả năng cấp cứu và điều trị cho bệnh nhân bị chấn thương do tai nạn giao thông (TNGT) tại các bệnh viện Quân đội và góp phần vào việc giải quyết các hậu quả của tai nạn giao thông. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ mức độ và phân loại chấn thương do TNGT; đánh giá kết quả xử trí cấp cứu bệnh nhân TNGT và yếu tố liên quan với kết quả xử trí cấp cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chọn mẫu thuận tiện bệnh nhân chấn thương do TNGT đến cấp cứu và điều trị tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Quân y 121. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. Phỏng vấn theo bộ câu hỏi soạn sẵn và khám lâm sàng và xem hồ sơ bệnh án của bệnh nhân tại Bệnh viện Quân y 121. Kết quả: Thang điểm Glasgow đối với nạn nhân TNGT bị chấn thương đầu, mặt, cổ: 3,72% mức độ nặng, 6,12% mức độ trung bình và 90,16% mức độ nhẹ. 76,84% chấn thương kín và 23,16% chấn thương hở. 48,84% gãy xương, 33,47% chấn thương sọ não (CTSN), 12,11% tổn thương phần mềm, 2,82% bị đa thương và 1,58% tổn thương nội tạng. 96,00% bệnh nhân TNGT được xử trí cấp cứu thành công và 4,00% xử trí cấp cứu không thành công. Với 0,53% (5/950) bệnh nhân chấn thương do TNGT tử vong trong quá trình điều trị tại Bệnh viện Quân y 121. Một số yếu tố có liên quan đến kết quả gồm: kinh tế gia đình; thời gian từ khi bị TNGT đến khi vào viện cấp cứu; mức độ nặng đánh giá thang điểm Glasgow của bệnh nhân chấn thương đầu, mặt, cổ; mức độ nặng đánh giá thang điểm Glasgow của bệnh nhân CTSN và vị trí bị tổn thương (p<0,05); tốc độ điều khiển xe máy khi bị TNGT và loại chấn thương (p<0,001). Kết luận: Đa số bị chấn thương kín và CTSN chiếm tỷ lệ khá cao. Tỷ lệ xử trí cấp cứu không thành công là 4,00% với 0,53% tử vong trong quá trình điều trị.  

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Lương Mai Anh và Nguyễn Thị Thu Huyền (2016). Tình hình tai nạn giao thông nhập viện và các yếu tố liên quan thông qua hệ thống ghi chép tai nạn giao thông tại các bệnh viện giai đoạn 2013-2014, Hội nghị An toàn giao thông Việt Nam năm 2016 - Tập 5: Ứng phó sau tai nạn giao thông, Hà Nội, tr. 61-69.
2. Cục Quản lý môi trường Y tế (2012). Tình hình tử vong toàn quốc năm 2010, truy cập ngày 16/3/2013, tại trang web https://moh.gov.vn/web/phong-chong-tai-nan-thuongtich/giam-sat-nghien-cuu/-/asset_publisher/aiq7dkEApLu2/content/tinh-hinh-tu-vongtoan-quoc-nam-20-1.
3. Phạm Minh Khuê và Vũ Hải Vinh (2020). "Đặc điểm tai nạn giao thông đường bộ được chuyển đến cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp năm 2018", Tạp chí Y học Việt Nam. 489 (tháng 4, số 1), tr. 130-134.
4. Phạm Minh Khuê và Vũ Hải Vinh (2020). "Đánh giá công tác sơ cấp cứu nạn nhân tai nạn giao thông đường bộ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp 6 tháng đầu năm 2018", Tạp chí Y học Việt Nam. 489 (tháng 4, số 1), tr. 99-103.
5. Lê Thị Hồng Lĩnh và Nguyễn Văn Sơn (2016). "Đặc điểm tai nạn giao thông đường bộ được chuyển đến Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng năm 2013", Tạp chí Y học Việt Nam. 440 (tháng 3, số 2), tr. 136-140.
6. Lê Thị Hồng Lĩnh và Nguyễn Văn Sơn (2016). "Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới kết
quả điều trị tai nạn giao thông đường bộ tại Bệnh viện Việt Tiệp năm 2013", Tạp chí Y học Việt Nam. 440 (tháng 3, số 2), tr. 182-187.
7. Lê Thành Quang và các cộng sự (2018). "Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lái xe tiềm ẩn gây tai nạn giao thông của tài xế xe ôm công nghệ", Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng. 11 (132), tr. 132-136.
8. Nguyễn Văn Sơn và Phan Thanh Hải (2014). "Đánh giá kết quả phẫu thuật máu tụ trong não cấp tính do chấn thương sọ não tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ", Tạp chí Y học thực hành. 928 (số 8), tr. 68-72.
9. The National Highway Traffic Safety Administration (2000). Traffic safety facts 2000: alcohol, chủ biên, National Center for Statistics & Analysis (Research & Development), Washington, D.C, pp. 1-7.