ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHÂN MÀY ĐAY MẠN TÍNH THEO NỒNG ĐỘ IgE TOÀN PHẦN

Nguyễn Huỳnh Như Ngọc1, Trịnh Thị Hồng Của1, , Ngô Quốc Hưng2
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Bệnh viện Chợ Rẫy

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Mày đay mạn tính là bệnh da liễu thường gặp, đặc trưng bởi sẩn phù, ngứa kéo dài trên 6 tuần, gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống người bệnh. Một số nghiên cứu cho thấy IgE toàn phần có thể liên quan đến cơ chế bệnh sinh và mức độ hoạt động bệnh, tuy nhiên mối liên quan với đặc điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân mày đay mạn tính vẫn chưa được làm sáng tỏ. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát và so sánh đặc điểm lâm sàng, mức độ hoạt động bệnh và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân mày đay mạn tính có tăng và không tăng IgE toàn phần tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 211 bệnh nhân mày đay mạn tính được chẩn đoán dựa trên đặc điểm lâm sàng. Thu thập thông tin về nồng độ IgE toàn phần, đặc điểm lâm sàng, mức độ hoạt động bệnh, chất lượng cuộc sống. Kết quả: Nồng độ IgE toàn phần trung bình là 120,82 ± 93,56 IU/mL, tỷ lệ tăng IgE là 54,5%. Nhóm tăng IgE toàn phần có biểu hiện lâm sàng nặng hơn (p <0,05) và tỷ lệ bệnh mức độ nặng cao hơn so với nhóm không tăng (57,4% so với 37,5%; p = 0,001). Điểm CUQ2oL cao hơn đáng kể ở nhóm tăng so với nhóm không tăng IgE (62,92 ± 5,59 so với 53,79 ± 4,09; p < 0,001). Kết luận: Tăng IgE toàn phần ở bệnh nhân mày đay mạn tính có liên quan đến mức độ nặng của triệu chứng, hoạt động bệnh và chất lượng cuộc sống, cho thấy IgE toàn phần có thể là chỉ dấu sinh học hữu ích trong đánh giá mức độ hoạt động bệnh và ảnh hưởng của mày đay mạn tính lên chất lượng cuộc sống người bệnh. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Zuberbier T., Abdul Latiff A. H., Abuzakouk M., et al. The international EAACI/GA²LEN/EuroGuiDerm/APAAACI guideline for the definition, classification, diagnosis, and management of urticaria,. Allergy. 2022. 77 (3), 734-766, doi:10.1111/all.15090
2. Zuberbier T., Maurer M., Grattan C. Urticaria and Angioedema. second edition. Springer Nature Switzerland; 2021.
3. Lê Thị Kiều Nhi, Trần Quốc Khánh, Nguyễn Sơn Tùng, Phạm Lê Duy. Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2022. 26(1), 194-201, https://scholar.dlu.edu.vn/thuvienso/bitstream/DLU123456789/186733/1/CVv395V26S1CD2 2022194.pdf
4. Altrichter S., Fok J. S., Jiao Q., et al. Total IgE as a Marker for Chronic Spontaneous Urticaria. Allergy Asthma Immunol Res. 2021. 13 (2), 206-218, doi:10.4168/aair.2021.13.2.206.
5. Nguyễn Minh Hường, Nguyễn Thùy Linh, Nguyễn Thị Thảo Nhi và cộng sự. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Da liễu Trung Ương. Tạp chí Da liễu học Việt Nam. 2024. (45), 82-91, https://doi.org/10.56320/tcdlhvn.45.185.
6. Preis S., Claussen C., Ziehfreund S., et al. Is there a difference between women and men in chronic spontaneous urticaria? A systematic review on gender and sex differences in CSU patients. World Allergy Organ J. 2024. 17 (11), 100974, doi: 10.1016/j.waojou.2024.100974.
7. Nguyễn Hoàng Vân, Nguyễn Phú Cường, Bùi Thị Vân. Một số đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Quân Y 103 năm 2021 - 2022. Tạp chí Y Dược học Quân sự. 2022. 47 (7), 91-100, doi:10.56535/jmpm.v47i7.78.
8. Đỗ Thị Thu Hiền, Lê Thị Minh Thúy. Mối liên quan giữa IgE toàn phần huyết thanh và đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở trẻ em viêm da cơ địa. Tạp chí Y Dược Lâm sàng 108. 2024. 19(2), 81-85, doi: https://doi.org/10.52389/ydls.v19i2.2181.