THỰC TRẠNG RỐI LOẠN GIẤC NGỦ TRÊN BỆNH NHÂN MÀY ĐAY MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2025

Trần Quang Nhân1, , Nguyễn Văn Thống1, Nguyễn Thị Thu Thảo1, Huỳnh Như1, Lý Kim Bích1, Nguyễn Huy Lộc1
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Mày đay mạn tính là bệnh da liễu thường gặp, với sẩn phù tái diễn trên 6 tuần. Ngứa tăng về đêm gây rối loạn giấc ngủ và giảm chất lượng cuộc sống, nhưng dữ liệu trong nước hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ, đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến rối loạn giấc ngủ trên bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 133 bệnh nhân bị mày đay mạn tính. Kết quả: Nhóm tuổi 36–60 chiếm 48,9%; nữ chiếm 52,6%. Bệnh nhân sống ở thành thị chiếm 54,1% và lao động tay chân chiếm 64,7%. Phần lớn mắc bệnh từ 6 tuần đến 6 tháng (83,5%) và không có tiền sử gia đình (82%). Theo UAS7, bệnh chủ yếu ở mức trung bình (42,9%) và nặng (30,8%); kiểm soát bệnh kém theo UCT chiếm 98,5%. Chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI ghi nhận ở 72,9% bệnh nhân. Dù nhiều bệnh nhân tự đánh giá giấc ngủ khá tốt hoặc rất tốt, các rối loạn như thức giấc giữa đêm, sử dụng thuốc ngủ và rối loạn chức năng ban ngày vẫn phổ biến. Mức độ nặng của bệnh theo UAS7 liên quan có ý nghĩa thống kê với chất lượng giấc ngủ kém (p < 0,001), trong khi các yếu tố dịch tễ và thời gian mắc bệnh chưa ghi nhận liên quan có ý nghĩa. Kết luận: Rối loạn giấc ngủ là gánh nặng đáng kể ở bệnh nhân mày đay mạn tính, thể hiện qua chất lượng ngủ kém, thức giấc về đêm và suy giảm chức năng ban ngày. Mối liên quan giữa UAS7 và PSQI cho thấy kiểm soát bệnh, nhất là ngứa về đêm, có vai trò quan trọng trong cải thiện giấc ngủ. Cần đưa đánh giá giấc ngủ vào quản lý thường quy nhằm tối ưu hóa điều trị, nâng cao chất lượng sống. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Zuberbier T., Abdul Latiff A.H., Abuzakouk M., Aquilina S., Asero R., et al. The international EAACI/GA²LEN/EuroGuiDerm/APAAACI guideline for the definition, classification, diagnosis, and management of urticaria. Allergy. 2022. 77(3), 734-766, doi: 10.1111/all.15090.
2. Gonçalo M., Giménez-Arnau A.M., Al-Ahmad M., Ben-Shoshan M., Bernstein J.A., et al. The global burden of chronic urticaria for the patient and society. British Journal of Dermatology. 2021. 184(2), 226-236, doi: 10.1111/bjd.19561.
3. Sánchez-Díaz M., Rodríguez-Pozo J.Á., Latorre-Fuentes J.M., Salazar-Nievas M.C., MolinaLeyva A., et al. Sleep quality as a predictor of quality-of-life and emotional status impairment in patients with chronic spontaneous urticaria: a cross-sectional study. International Journal of Environmental Research and Public Health. 2023. 20(4), 3508, doi: 10.3390/ijerph20043508.
4. Bộ Y tế. Bệnh mày đay. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh da liễu. Nhà xuất bản Y học. 2023. 212-217.
5. Lý Thị Mỹ Nhung, Đoàn Thanh Thuỷ Tiên, Văn Thế Trung. Khảo sát chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân mày đay mạn tính thông qua chỉ số Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI). Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2025. 28(8), 103-109, DOI: 10.32895/hcjm.m.2025.08.13.
6. Shah S., Gupta M., Bishnoi A., Parsad D., Kumaran M.S. Outcome measures in chronic urticaria: A comprehensive review. Indian Journal of Dermatology, Venereology and Leprology. 2025. 91(4), 455-461, doi: 10.25259/IJDVL_523_2024.
7. Buttgereit T., Salameh P., Sydorenko O., Zuberbier T., Metz M., et al. The 7-day recall period version of the Urticaria Control Test-UCT7. Journal of Allergy and Clinical Immunology. 2023. 152(5), 1210-1217.e14, doi: 10.1016/j.jaci.2023.03.034.
8. Smyth C. The Pittsburgh sleep quality index (PSQI). Journal of Gerontological Nursing. 1999. 25(12), 10-11, doi: 10.3928/0098-9134-19991201-10.
9. Abdel-Meguid A.M., Awad S.M., Noaman M., Abdel Gawad A.M., Abou-Taleb D.A.E. Does chronic urticaria affect quality of sleep and quality of life? Journal of Public Health Research. 2024. 13(2), 22799036241243268, doi: 10.1177/22799036241243268.