ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY WEBER B, C BẰNG PHƯƠNG PHÁP KẾT HỢP XƯƠNG CAN THIỆP TỐI THIỂU DƯỚI MÀN TĂNG SÁNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Gãy kín Weber B,C chủ yếu được điều trị phẫu thuật. Lựa chọn kết hợp xương nắn chỉnh hở đặt cố định bên trong hiện được xem là tiêu chuẩn vàng nhưng có tỷ lệ biến chứng vết mổ cao và đặc biệt cao ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao. Kết hợp xương can thiệp tối thiểu giúp bảo tồn mạch máu nuôi xương và hạn chế tổn thương phần mềm, giảm biến chứng vết mổ. Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu đầy đủ về phương pháp này. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh trên phim X-quang quy ước ở bệnh nhân gãy Weber B,C điều trị bằng phương pháp kết hợp xương can thiệp tối thiểu dưới màn tăng sáng; 2. Đánh giá kết quả điều trị gãy Weber B,C bằng phương pháp kết hợp xương can thiệp tối thiểu dưới màn tăng sáng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 35 bệnh nhân được chẩn đoán gãy kín Weber B,C và chỉ định phẫu thuật kết hợp xương can thiệp tối thiểu tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ và Bệnh viện Đa Khoa thành phố Cần Thơ từ tháng 4 năm 2024 đến tháng 12 năm 2025. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 50,2 ± 16,5 (18-74). Kết quả nắn chỉnh ổ gãy theo thang điểm Burwell-Charnley đạt xuất sắc 97%, tốt 3%. Tỷ lệ toác gọng chày-mác ở nhóm Weber C cao hơn so với nhóm Weber B (p = 0,04). Điểm AOFAS trung bình theo dõi dài hạn đạt 93,2 ± 6,1 điểm. Kết luận: Phương pháp kết hợp xương can thiệp tối thiểu dưới màn tăng sáng đáp ứng tốt các mục tiêu nắn chỉnh giải phẫu, phục hồi chức năng cổ chân và hạn chế được các biến chứng liên quan đến vết mổ trong điều trị gãy Weber B,C.
Từ khóa
Gãy kín Weber B, C, MIO, thang điểm AOFAS, can thiệp tối thiểu
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Frederick M.A., James H.B. Campbell’s Operative Orthopaedics. Elsevier. 2021. 2812-2905. 2.
3. Kurt E., Demir T., Tekşan E., Karaca H., Aytekin K. The minimally invasive approach for lateral malleolus fractures plating demonstrating less pain, shorter operative time and earlier discharge compared to open approach: a prospective randomized controlled trial. J Orthop Surg Res. 2026. 21, 125, https://doi.org/10.1186/s13018-025-06624-z.
4. Yanez Arauz J.M. Ankle Fractures: Minimally Invasive Surgery. Techniques in Foot & Ankle Surgery. 2022. 21(2), 70-76, doi: 10.1016/j.fas.2020.09.010.
5. Mooya S., Kakakhel M., El-Amien A., Anto P. Anti-Glide Plate Fixation for Lateral Malleolus Fractures by Minimally Invasive Technique in Geriatric Patients. Cureus. 2022. 14(3), e23160, doi: 10.7759/cureus.23160.
6. Trịnh Hữu Thảo, Nguyễn Lê Hoan, Nguyễn Thanh Huy. Đánh giá kết quả điều trị gãy kín mắt cá kiểu Weber B và C bằng phương pháp kết hợp xương bên trong. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2024. 77, 316-22, https://doi.org/10.58490/ctump.2024i77.2822.
7. Vũ Minh Hải, Phan Thanh Nam, Trần Hoàng Tùng. Kết quả phẫu thuật điều trị gãy kín mắt cá chân tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. Tạp chí Y học việt nam. 2022. 1, 3132, https://doi.org/10.51298/vmj.v517i1.3132.
8. Đặng Lê Hoàng Nam, Nguyễn Bá Lưu, Lê Nghị Thành Nhân. Đánh giá kết quả điều trị gãy mắt cá chân. Tạp chí Y Dược Huế. 2025. 15(7), 171-9, doi: 10.34071/jmp.2025.7.22.
9. Nicolai C., Bierry G., Faruch-Bilfeld M., Sans N., Willaume T. The concept of ring of injuries: evaluation in ankle trauma. Skeletal Radiology. 2022. 51(12), 2253-2262, doi: 10.1007/s00256022-04062-0.
10. Lee J.Y., Cho Y.J., Kang S.W., Cho Y.M., Choi H.B. Outcomes of Immediate Operative Treatment of Ankle Trimalleolar Open Fractures. J Korean Foot Ankle Soc. 2020. 24(1), 2530, https://doi.org/10.14193/jkfas.2020.24.1.25.
11. Marchena-Rodriguez A., Garcia-Medina J., Sanchez-Morilla S., Cervera-Garvi P., Ortiz-Romero M., et al. Methodological Quality of Cross-Cultural Adaptations of the American Orthopaedic Foot and Ankle Society Ankle-Hindfoot Scale. J Am Podiatr Med Assoc. 2025. 115(5), 23-166, https://doi.org/10.7547/23-166.