KHẢO SÁT THỂ TRẠNG HƯ CHỨNG VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC VIÊN SAU ĐẠI HỌC NGÀNH Y HỌC CỔ TRUYỀN
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Thể trạng Hư chứng là một dạng mất cân bằng thể chất khá phổ biến ở những nhóm đối tượng chịu áp lực công việc trí óc cao và có lối sống sinh hoạt không điều độ. Nhằm có cơ sở dữ liệu đánh giá trạng thái này trên nhóm đối tượng đặc thù, chúng tôi tiến hành khảo sát trên học viên sau đại học. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tỷ lệ thể trạng Hư chứng của học viên sau đại học và đánh giá mối liên quan của tỷ lệ này với thói quen sinh hoạt của học viên sau đại học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 144 học viên sau đại học ngành Y học cổ truyền tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Số liệu thu thập qua phiếu khảo sát tự điền. Kết quả: Tỷ lệ học viên có biểu hiện thể trạng Hư chứng là 47,2%, chủ yếu ở mức độ nhẹ (39,5%). Điểm số triệu chứng trung bình cao nhất nằm ở nhóm triệu chứng Toàn thân (15,8 ± 5,5 điểm) với biểu hiện mệt mỏi, hụt hơi, theo sau là nhóm triệu chứng Tỳ vị (14,9 ± 5,3 điểm) với các biểu hiện chướng bụng, ăn kém. Phân tích hồi quy logistic ghi nhận xu hướng xuất hiện thể trạng Hư chứng cao hơn ở nhóm có các thói quen sinh hoạt kém lành mạnh, bao gồm: ăn uống thất thường (OR = 1,3; 95% CI: 0,7 – 2,5), ít hoạt động thể lực (OR = 1,8; 95% CI: 0,9 - 3,4) và thức khuya sau 23 giờ (OR = 1,7; 95% CI: 0,9 - 3,4). Tuy nhiên, sự khác biệt này chưa đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết luận: Thể trạng Hư chứng theo CCMQ phản ánh tình trạng sức khỏe suy giảm đang hiện hữu ở học viên sau đại học. Kết quả bước đầu gợi ý xu hướng ảnh hưởng của lối sống đến chính khí cơ thể, việc can thiệp thông qua điều chỉnh lối sống lành mạnh là giải pháp dự phòng có ý nghĩa thực tiễn.
Từ khóa
Thể trạng Hư chứng, Khí hư, Huyết hư, học viên sau đại học, thói quen sinh hoạt
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Nguyễn Nhược Kim và cộng sự. Lý luận cơ bản Y học cổ truyền. Trường Đại học Y Hà Nội, Nhà xuất bản Y học. 2018. 35-37.
3. Seoane HA, Moschetto L, Orliacq F, et al. Sleep disruption in medicine students and its relationship with impaired academic performance: A systematic review and meta-analysis. Sleep Med Rev. 2020. 53, 101333, doi: 10.1016/j.smrv.2020.101333.
4. Wong W, Lam CLK, Wong VT, Yang ZM, Ziea ETC, Kwan AKL. Validation of the constitution in Chinese medicine questionnaire: does the traditional Chinese medicine concept of body constitution exist?. Evid Based Complement Alternat Med. 2013. 481491, doi: 10.1155/2013/481491.
5. Nguyen DTH, Le TT, Tang HK, Le LB, Lam TC, Le LTH. The Vietnamese version of the constitution in Chinese medicine questionnaire (CCMQ): validity and reliability. MedPharmRes. 2022. 6(2), 18-27, DOI:10.32895/UMP.MPR.6.2.3.
6. Lê TTT, Nguyễn TPV, Lê HT, et al. Suboptimal health status and associated factors among students at Hanoi Medical University in 2024. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm. 2025. 21(2E), 72-80, DOI:10.56283/1859-0381/859.
7. Trần Văn Kỳ. Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn. Nhà xuất bản Y học. 2011. 14.
8. Lê Hữu Trác. Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh. Nhà xuất bản Y học. 2010.
9. Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam. Dinh dưỡng và Dược thảo Y học cổ truyền. Nhà xuất bản Y học. 2019. 88-90.
10. World Health Organization. WHO Guidelines on Physical Activity and Sedentary Behaviour. World Health Organization. 2020. 23-25.
11. Almojali AI, Almalki SA, Alothman AS, et al. The prevalence and association of stress with sleep quality among medical students. Journal of Epidemiology and Global Health. 2017. 7(3), 169-174, doi: 10.1016/j.jegh.2017.04.005.
12. Irwin MR. Sleep and inflammation: partners in sickness and in health. Nat Rev Immunol. 2019. 19(11), 702-715, doi: 10.1038/s41577-019-0190-z.
13. Medic G, Wille M, Hemels ME. Short- and long-term health consequences of sleep disruption. Nat Sci Sleep. 2017. 9, 151–161, doi: 10.2147/NSS.S134864.