ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÓA TRỊ HỖ TRỢ UNG THƯ VÚ NGUY CƠ CAO BẰNG PHÁC ĐỒ 4AC–4P LIỀU DÀY
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Ung thư vú là một bệnh lý ác tính thường gặp, với tỷ lệ chẩn đoán ngày càng gia tăng, đồng thời tạo ra gánh nặng đáng kể đối với sức khỏe cộng đồng. Phác đồ liều dày là bước tiến đột phá cho ung thư vú nguy cơ cao, giúp tối ưu cường độ điều trị, qua đó cải thiện thời gian sống còn và giảm tái phát hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá một số yếu tố liên quan đến kết quả hóa trị ung thư vú nguy cơ cao của bệnh nhân được điều trị bằng hóa trị hỗ trợ phác đồ 4AC–4P liều dày. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 78 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú, hóa trị hỗ trợ phác đồ liều dày 4AC–4P tại Bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ từ tháng 05/2024 - 01/2026. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 47,79 ± 7,33, trong đó nhóm tuổi 41–50 chiếm tỷ lệ cao nhất (47,4%). Nhóm bệnh nhân ≤ 40 tuổi có tiền sử gia đình mắc các bệnh lý liên quan nhiều hơn so với nhóm > 40 tuổi, và sự khác biệt này đạt ý nghĩa thống kê (OR = 6,9; KTC 95%: 4,000 –11,934; p = 0,026). Nhóm bệnh nhân có tiền sử bệnh lý mạn tính ghi nhận tỷ lệ nôn ói cao hơn nhóm không mắc (37,5% so với 17,4%), mối liên quan có ý nghĩa thống kê (OR = 2,85; KTC 95%: 1,002–8,109; p = 0,045). Kết luận: Tiền sử gia đình mắc ung thư vú được xác định là yếu tố nguy cơ quan trọng ở nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu thực hiện tư vấn di truyền ngay tại thời điểm chẩn đoán. Tác dụng phụ nôn ói trong hóa trị tăng ở bệnh nhân mắc các bệnh lý mạn tính kèm theo, cần đánh giá và kiểm soát nhiều hơn cho đối tượng này.
Từ khóa
Ung thư vú, hóa trị, liều dày, nguy cơ cao
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Ando K., Shimomura A. Optimizing the adjuvant chemotherapy for HER2-positive early breast cancer. AME Clin Trials Rev. 2025. 3,56, doi:10.21037/actr-24-251.
3. Brandberg Y., Johansson H., Hellström M., Gnant M., Mobus V., et al. Long-term (up to 16 months) health-related quality of life after adjuvant tailored dose-dense chemotherapy vs. standard three-weekly chemotherapy in women with high-risk early breast cancer. Breast Cancer Res Treat. 2020. 181, 87–96, doi: 10.1007/s10549-020-05602-9.
4. Gray R., Bradley R., Braybrooke J., Liu Z., Peto R., et al. Increasing the dose intensity of chemotherapy by more frequent administration or sequential scheduling: A patient-level metaanalysis of 37,298 women with early breast cancer in 26 randomised trials. Lancet. 2019. 393(10179), 1440–1452, doi: 10.1016/S0140-6736(18)33137-4.
5. Phạm Tuấn Anh, Trần Văn Thuấn, Lê Thanh Đức, Nguyễn Tiến Quang. Đánh giá hiệu quả bước đầu và tính an toàn của phác đồ hóa trị 4AC-4P liều dày trong điều trị bổ trợ ung thư vú. Tạp chí Ung thư học Việt Nam. 2019. (4), 222–228.
6. Đỗ Thị Kim Anh. Đánh giá kết quả điều trị hóa chất bổ trợ phác đồ 4AC-4Paclitaxel trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II–III. Tạp chí Ung thư học Việt Nam. 2008. 1, 260–266.
7. Citron M.L., Berry D.A., Cirrincione C., Hudis C., Winer E.P., et al. Randomized trial of dosedense versus conventionally scheduled and sequential versus concurrent combination chemotherapy as postoperative adjuvant treatment of node-positive primary breast cancer: first report of Intergroup Trial C9741/Cancer and Leukemia Group B Trial 9741. J Clin Oncol. 2003. 21(8), 1431–1439, doi:10.1200/JCO.2003.09.081.
8. Kummel S., Krocker J., Kohls A., Breitbach G., Morack G., et al. Randomized trial: survival benefit and safety of adjuvant dose-dense chemotherapy for node-positive breast cancer. Br J Cancer. 2006. 94, 1237–1244.
9. Mavaddat N., Peock S., Frost D., Ellis S., Platte R., et al. Cancer risks for BRCA1 and BRCA2 mutation carriers: results from prospective analysis of EMBRACE. J Natl Cancer Inst. 2013. 105(11), 812–822, doi:10.1093/jnci/djt095.
10. Phùng Thị Huyền. Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ kết hợp Trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III. Luận án Tiến sĩ. Đại học Y Hà Nội. 2016. 116.
11. Swain S.M., Tang G., Geyer C.E. Jr., Rastogi P., Atkins J.N., et al. Definitive results of a phase III adjuvant trial comparing three chemotherapy regimens in women with operable, nodepositive breast cancer: the NSABP B-38 trial. J Clin Oncol. 2013. 31, 3197–3204, doi: 10.1200/JCO.2012.48.1275.
12. Moebus V., Jackisch C., Lueck H.J., Bois A., Thomssen C., et al. Intense dose-dense sequential chemotherapy with epirubicin, paclitaxel, and cyclophosphamide compared with conventionally scheduled chemotherapy in high-risk primary breast cancer: Mature results of an AGO phase III study. J Clin Oncol. 2010. 28, 2874–2880, doi: 10.1200/JCO.2009.24.7643.
13. Jiang T., Wang X., Zheng L., Ren T., Li Y., et al. Risk factors of nausea and vomiting in patients with breast cancer undergoing chemotherapy: A retrospective study. Medicine. 2025. 104(3), e41067, doi: 10.1097/MD.0000000000041067.