NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM V.A Ở TRẺ EM BẰNG COBLATOR TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ NĂM 2024-2026
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Điều trị viêm V.A mạn tính phì đại ở trẻ em là vấn đề thường gặp, cần được can thiệp kịp thời nhằm phòng ngừa biến chứng và bảo đảm sự phát triển của trẻ. Phương pháp nạo V.A bằng Coblator, sử dụng năng lượng sóng cao tần ở nhiệt độ thấp để cắt và đông mô mềm, giúp kiểm soát tốt diện cắt, hạn chế tối đa tổn thương mô lành, giảm mất máu và giảm đau sau mổ. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhi viêm V.A mạn tính phì đại có chỉ định phẫu thuật và đánh giá kết quả điều trị nạo V.A ở bệnh nhi bằng Coblator qua nội soi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 68 bệnh nhi viêm V.A mạn tính phì đại đến khám và được chỉ định phẫu thuật nạo V.A bằng Coblator qua nội soi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ từ 04/2024 đến 06/2025. Kết quả: Không có sự khác biệt giữa nam (48,53%) và nữ (51,47%). Lý do vào viện chủ yếu là chảy mũi chiếm 85,29%. V.A phì đại độ III (66,18%) chiếm tỷ lệ cao nhất, tình trạng ứ dịch hòm nhĩ (29,41%). Tỷ lệ phẫu thuật nạo V.A đơn thuần ghi nhận 73,53%, và 26,47% số bệnh nhi thực hiện đồng thời phẫu thuật tai mũi họng khác. Ghi nhận 1 trường hợp chảy máu sau mổ 1 tuần. Không đau sau mổ ngày thứ nhất (44,12%), ngày thứ 2 (70,59%), 100% hết đau sau 7 ngày. Kết quả hậu phẫu tốt đạt 97,06%. Kết luận: Phẫu thuật nạo V.A bằng Coblator qua nội soi cho thấy tính an toàn và hiệu quả cao: thời gian phẫu thuật ngắn, giảm mất máu trong mổ, giảm đau sau mổ và cho kết quả điều trị tốt sau phẫu thuật.
Từ khóa
Viêm V.A mạn tính phì đại, nạo V.A bằng Coblator, bệnh nhi
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Ngô Ngọc Liễn. Giản yếu bệnh học Tai-Mũi-Họng. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 2006. 60-69.
3. Trần Anh Tuấn. Sử dụng coblation trong phẫu thuật cắt amidan và nạo V.A, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 2010.
4. Phạm Anh Tuấn. Đánh giá kết quả cắt Amiđan bằng dao điện, coblator và plasma. Luận văn Bác sĩ nội trú, Đại học Y Hà Nội. 2017.
5. Parikh S.R., Coronel M., Lee J.J.. Validation of a new grading system for endoscopic examination of adenoid hypertrophy. Otolaryngology–Head and Neck Surgery. 2006. 135(5), 684-687. http://doi.org/10.1016/j.otohns.2006.05.003.
6. American Academy of Otolaryngology–Head and Neck Surgery. Clinical Indicators: Adenoidectomy. 2021. https://www.entnet.org/resource/clinical-indicators-adenoidectomy/.
7. Nguyễn Xuân Mai, Dương Hữu Nghị. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nhĩ lượng đồ và đánh giá kết quả điều trị nạo V.A phì đại bằng hummer tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2018-2020. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2020, 156-163.
8. Phạm Đình Cảnh, Nguyễn Tư Thế, Hồ Mạnh Hùng. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật nạo V.A bằng plasma ở trẻ em tại Bệnh viện Trung Ương Huế. Trường Đại học Y dược Huế. 2022. 39-54.
9. Đỗ Đức Cảnh, Nguyễn Minh Hưng, Vũ Trung Kiên. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi sử dụng coblator nạo V.A tại Bệnh viện Nhi Thái Bình. Trường Đại học Y dược Thái Bình. 2022. 25-40.
10. Lê Thuỳ Hương, Nguyễn Kỳ Duy Tâm. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và đánh giá kết quả điều trị nạo V.A bằng dao cắt hút liên tục qua nội soi ở bệnh nhi viêm V.A mạn tính phì đại tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2023-2024. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2024, 161-167. https://doi.org/10.58490/ctump.2024i82.3270.
11. Windfuhr JP, et al. Studien zur Coblation -Tonsillektomie [Coblation tonsillectomy: a review of the literature]. HNO. 2007. 55(5), 337-348.
12. Phạm Đình Nguyên, Nhan Trừng Sơn, Đặng Hoàng Sơn. Khảo sát một số trường hợp nạo V.A trẻ em bằng Coblator tại khoa TMH Bệnh viện Nhi Đồng. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2009. số 13/2009, 190-193.
13. Trần Anh Tuấn, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Hữu Khôi. Nạo V.A bằng kỹ thuật Coblator kết hợp nội soi qua đường mũi. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2009. số 13/2009, 284-289.