ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN CỔ XƯƠNG ĐÙI BẰNG PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG TOÀN PHẦN CHUYỂN ĐỘNG ĐÔI
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Gãy kín cổ xương đùi là chấn thương phổ biến ở người cao tuổi với nguy cơ trật khớp cao sau phẫu thuật thay khớp háng toàn phần truyền thống. Khớp háng chuyển động đôi được thiết kế để tăng biên độ vận động, tăng độ vững và giảm tỷ lệ biến chứng này. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học của bệnh nhân gãy cổ xương đùi, đồng thời đánh giá kết quả điều trị bằng phẫu thuật thay khớp háng toàn phần chuyển động đôi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 32 bệnh nhân gãy cổ xương đùi được điều trị bằng thay khớp háng toàn phần chuyển động đôi tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 6/2024 đến tháng 01/2026. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 66,06 ± 10,40; nữ giới chiếm đa số (59,4%). Gãy Garden IV chiếm tỷ lệ cao nhất (81,25%). Thời gian phẫu thuật trung bình là 80,6 ± 10,4 phút. Chức năng khớp háng sau mổ theo thang điểm Merle d’Aubigné đạt trung bình 16,5 ± 1,83 điểm; tỷ lệ kết quả rất tốt và tốt đạt 84,37%. Không ghi nhận trường hợp trật khớp sau mổ trong thời gian theo dõi. Kết luận: Phẫu thuật thay khớp háng toàn phần sử dụng khớp chuyển động đôi cho kết quả ngắn hạn khả quan trong điều trị gãy kín cổ xương đùi và chưa ghi nhận trật khớp trong thời gian theo dõi.
Từ khóa
Gãy kín cổ xương đùi, thay khớp háng toàn phần, chuyển động đôi
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. National Institute for Health and Care Excellence. Hip fracture: management. Clinical guideline CG124. NICE. 2023. London.
3. Suarez-Ahedo C., Quintero-Quintero M. A., Martinez-Armenta C., et al. Modern dual mobility implants in total hip arthroplasty: stability, survival, and ion safety evaluation: the comprehensive review. JBJS Open Access. 2025. 10(4), e25.00141.
4. Farey J. E., Masters J., Cuthbert A. R., Iversen P., van Steenbergen L. N., et al. Dual mobility versus conventional total hip arthroplasty compared with surgery for displaced fracture of the femoral neck: a randomized controlled trial protocol. BMJ Open. 2022.
5. Patel D., Singh A., Vohra R., Chauhan S. Dual mobility cups hip arthroplasty as a treatment for displaced fracture of the femoral neck in the elderly patients: a prospective study. Trauma Monthly. 2022. 27(3), 504-512, doi: 10.30491/tm.2021.271571.1234.
6. Nguyễn Hồng Hà, Nguyễn Đình Kiên, Lê Hoài Nam, Phan Anh Nghĩa, Trần Thị Thanh Nhàn. Kết quả sớm phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi-măng chuyển động đôi tại Bệnh viện Quân y 17. Tạp chí Y học Quân sự. 2025. 381, 15-19, doi: 10.59459/1859-1655/JMM.870.
7. Nguyễn Văn Thành. Ứng dụng kỹ thuật thay khớp háng toàn phần chuyển động kép không xi măng ở bệnh nhân gãy cổ xương đùi. Luận văn Bác sĩ chuyên khoa cấp II. Trường Đại học Y Hà Nội. 2016. Hà Nội.
8. Nguyen M. D., Le N. T. N., Nguyen N. T. B., Nguyen V. H. Outcomes of dual-mobility cup for displaced femoral neck fractures in the elderly. Journal of Clinical Medicine - Hue Central Hospital. 2023. 92, 91-100, doi: 10.38103/jcmhch.92.16.
9. Cicio C., Testa G., Salvo G., Liguori B., Vescio A., et al. Femoral neck fractures in elderly patients: dual mobility cup arthroplasty or hemiarthroplasty? A narrative review of the literature. Applied Sciences. 2025. 15, 4844, doi: 10.3390/app15094844.
10. Mei J., Quan K., Wang H., Dai Y., Zhang F., et al. Total cross-sectional area of the femoral neck nutrient foramina measured to assess arterial vascular beds in the femoral head. Journal of Orthopaedic Surgery and Research. 2019. 14, 439, doi: 10.1186/s13018-019-1480-7.
11. American Academy of Orthopaedic Surgeons. Management of hip fractures in older adults: evidence-based clinical practice guideline. AAOS. 2021.
12. Lương Toàn Thắng, Nguyễn Mạnh Khánh, Đinh Ngọc Quý, Nguyễn Khắc Tài, Đào Văn Nhân, và cộng sự. Đánh giá kết quả sau phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng ở bệnh nhân dưới 30 tuổi. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023. 523(2), 37-40, doi:10.51298/vmj.v523i2.4504.