NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐÓNG ĐINH NỘI TỦY TRONG ĐIỀU TRỊ GÃY THÂN XƯƠNG ĐÙI TẠI BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tại Việt Nam, nhiều trung tâm chấn thương chỉnh hình đã áp dụng phương pháp đóng đinh nội tủy có chốt để điều trị gãy thân xương đùi. Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Đà Nẵng nhằm đánh giá kết quả điều trị gãy thân xương đùi bằng phương pháp đóng đinh nội tủy. Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá một số kết quả của phẫu thuật đóng đinh nội tủy điều trị gãy thân xương đùi tại bệnh viện Đà Nẵng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ 1/2022 đến 9/2023 với 32 bệnh nhân. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân được phẫu thuật trong vòng 2-3 ngày sau khi nhập viện (75%), thời gian phẫu thuật trung bình là 74.2 ± 16.2 phút. Thời gian nằm viện trung bình là 8.3 ± 2.3 ngày. Tại thời điểm 1 năm sau phẫu thuật, tỷ lệ liền xương là 90.6%, có 3 bệnh nhân bị khớp giả phải phẫu thuật lần 2. Theo thang điểm Ter-Schiphort, kết quả rất tốt – tốt chiếm 90.6%, trong khi đó kết quả xấu chiếm 9.4%. Kết luận: Kết quả này cho thấy việc sử dụng đinh nội tủy có thể thực hiện thường quy tại bệnh viện. Tuy nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế, bao gồm cỡ mẫu nhỏ, thiết kế mô tả và không có nhóm chứng.
Từ khóa
Thân xương đùi, đinh nội tủy, không liền xương
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. N.T. Anh. Đánh giá kết quả điều trị gãy không vững thân xương đùi bằng kết hợp xương đinh SIGN tại bệnh viện Trung Ương Huế. Luận văn bác sĩ nội trú. Đại học Y Dược Huế. 2013.
3. V. Q. Hưng. Đánh giá kết quả điều trị gãy kín phần xa thân xương đùi phức tạp bằng đinh SIGN có chốt ngược dòng tại bệnh viện Việt Đức từ 1/2012 - 7/2014. Luận văn bác sĩ chuyên khoa II. Đại học Y Hà Nội. 2014.
4. A. Kropfl, J Davies, U Berger, H Hertz, G Schlag. Intramedullary pressure and bone marrow fat extravasation in reamed and unreamed femoral nailing. Journal of Orthopaedic Research. 1999. 17261-268. doi: 10.1002/jor.1100170216.
5. Yong-Gang Ma, Ge-Liang Hu, Wei Hu, Fan Liang. Surgical factors contributing to nonunion in femoral shaft fracture following intramedullary nailing. Chinese Journal of Traumatology. 2016. 19, 109-112. doi: 10.1016/j.cjtee.2016.01.012.
6. N. T. Linh. Nghiên cứu quy trình điều trị gãy kín thân xương đùi không vững bằng đinh nội tủy có chốt dưới màn tăng sang. Luận án Tiến sĩ. Đại học Y Hà Nội. 2018.
7. Wei Jiang, Yan Lin, et al. A novel reduction device for the minimally invasive treatment of femoral shaft fractures. Am J Transl Res. 2020. 12(7), 3917-3925.
8. S. I. Ghouri. Does Open Reduction in Intramedullary Nailing of Femur Shaft Fractures Adversely Affect the Outcome? A Retrospective Study. Advances in Orthopedics. 2020. 7583204. doi: 10.1155/2020/7583204.
9. M. S. Soylemez. Does using different entrance points for intramedullary nails affect clinical outcomes for femoral shaft fractures? A retrospective clinical comparative study. North Clin Istanb. 2020. 7, 609-618. doi: 10.14744/nci.2020.08058.
10. R. E. Buckley. Femur, shaft (including subtrochanteric fractures). AO Principles of Fracture Management. 2017. 792-836.
11. N. Kimmatkar, et al. Diaphyseal Femoral Intramedullary Nailing: Closed or Open Intervention?. International Journal of Scientific Study. 2014. 1(5), 15-18.
12. Y. Chen. Radiographic outcomes of the treatment of complex femoral shaft fractures (AO/OTA 32-C) with intramedullary nailing: a retrospective analysis of different techniques. Journal of International Medical Research. 2022. 50, 1-13. doi: 10.1177/03000605221103974.
13. Đ. Đ. Tùng. Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị gãy thân xương đùi bằng đinh nội tủy có chốt. Luận văn bác sĩ chuyên khoa II. Đại học Y Hà Nội 2019.