KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIÊM TĨNH MẠCH VỊ TRÍ KIM LUỒN Ở BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ, NĂM 2025

Đỗ Thị Như Ngọc1, , Phạm Thị Bích Thảo1
1 Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Viêm tĩnh mạch do lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại biên là biến chứng thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng, gây ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Biến chứng này không chỉ kéo dài thời gian nằm viện mà còn làm tăng chi phí chăm sóc y tế. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến viêm tĩnh mạch tại vị trí lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại biên ở bệnh nhi tại Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ, năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 223 bệnh nhi có đặt và lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại vi ≥ 24 giờ tại khoa Sốt Xuất Huyết, bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ từ tháng 02/2025 đến tháng 6/2025. Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu 223 bệnh nhi có độ tuổi trung vị 5 (4 – 7) tuổi, tỷ lệ bệnh nhi có thời gian lưu kim >48 – 72 giờ là 60,5%. Tỷ lệ viêm tĩnh mạch ở bệnh nhi có đặt kim luồn tĩnh mạch ngoại vi là 27,4%. Phần lớn các trường hợp viêm tĩnh mạch ở mức độ nhẹ, với phân độ I chiếm 22,9%. Các mức độ nặng hơn hiếm gặp, chỉ có 3,6% ở độ II, 0,9% ở độ III, và không có trường hợp nào ở độ IV hoặc V. Trẻ 7–11 tuổi có nguy cơ viêm tĩnh mạch cao hơn 2,04 lần so với nhóm ≤6 tuổi (OR = 2,04; p = 0,04). Trẻ thừa cân có nguy cơ viêm tĩnh mạch cao hơn 2,94 lần so với trẻ có BMI bình thường (OR = 2,94; p = 0,002). Kết luận: Tỷ lệ viêm tĩnh mạch ở bệnh nhi đặt kim luồn ngoại biên là 27,4%, chủ yếu mức độ I là 22,9%. Yếu tố tuổi và BMI có liên quan đến tăng nguy cơ viêm tĩnh mạch. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Y tế, Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, ban hành kèm theo Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 29 tháng 7 năm 2012 của Bộ Y tế.
2. Suliman W. Saleh H, Al-Shiekh W, Taan, and M. AlBashtawy. The Incidence of Peripheral Intravenous Catheter Phlebitis and Risk Factors among Pediatric Patients. Journal of pediatric nursing. 2020. 50, 89-93, https://doi.org/10.1016/j.pedn.2019.11.006.
3. Kashiura, M., Yasuda, H., Oishi, T., Kishihara, Y., Moriya, T., Kotani, Y., and Morikane, K. Risk factors for peripheral venous catheter-related phlebitis stratified by body mass index in critically ill patients: A post-hoc analysis of the AMOR-VENUS study. Frontiers in Medicine. 2022. 9, 1037274, https://doi.org/10.3389/fmed.2022.1037274.
4. Bùi Thị Liên, Nguyễn Thị Huyền. Viêm tĩnh mạch tại vị trí lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại biên và một số yếu tố liên quan tại Trung tâm Thần Kinh, Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí thần kinh học Việt Nam. 2024. 4 (43), 33-41, https://doi.org/10.62511/vjn.43.2024.037.
5. Gorski L, A. The 2016 Infusion Therapy Standards of Practice. Home Healthcare Now. 2017. 35(1), 10-18, https://doi.org/10.1097/nhh.0000000000000481.
6. Vũ Bá Quỳnh, Nguyễn Nhật Thanh, Phùng Kim Yến, Bùi Hoàng Long và các cộng sự. Khảo sát tỷ lệ viêm tại chỗ và một số yếu tố liên quan sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2021. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108. 2022. 1 17(DB8), 14-120, https://doi.org/10.52389/ydls.v17iDB8.1309.
7. Lâm Thị Nhung, Trương Quang Trung, Lê Thị Cúc. Viêm tĩnh mạch tại vị trí lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại biên và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí nghiên cứu y học. 2021. 145(9), 85-92, https://doi.org/10.52852/tcncyh.v145i9.272.
8. Võ Thị Phương Anh, Trương Thị Hoài, Trương Thị Nga, Nguyễn Thị Trang Khảo sát tình trạng viêm tại chỗ và các yếu tố liên quan trên người bệnh có đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị. Tạp chí Y Dược học. 2021. 6 (12), 135 – 140, https://doi.org/10.34071/jmp.2022.6.18
9. Cernuda-Martínez J. A, Cobo-Sánchez J. L, Alarcón-Duque E. M, and et al. ClinicalEpidemiological Predictors of Phlebitis Associated with Peripheral Intravenous Catheters (PIVC) in Spanish Hospitals: Results of a National Cohort Study. International Journal of Nursing Studies Advances. 2025. 9, 100355. https://doi.org/10.1016/j.ijnsa.2025.100355.
10. Mandal A, & Raghu K. Study on incidence of phlebitis following the use of pherpheral intravenous catheter. Journal of family medicine and primary care. 2019. 8(9), 2827-2831, doi: 10.4103/jfmpc.jfmpc_559_19.
11. Alvarez S. S. O, Quelal V. D. T, Mina J. E. C, & Herrera M. O. F. Factores de riesgo en el desarrollo de flebitis por catéter endovenoso periférico en pacientes hospitalizados: un estudio transversal. Horizonte de Enfermería. 2025. 36(1), 206-218. ttps://doi.org/10.7764/Horiz_Enferm.36.1.206-218.
12. Jacinto A. K. D. L., Avelar A. F. M., Wilson A. M. M. M, & Pedreira M. D. L. G. Phlebitis associated with peripheral intravenous catheters in children: study of predisposing factors. Escola Anna Nery. 2014. 18, 220-226. https://doi.org/10.5935/1414-8145.20140032.
13. Zhao, L., Jin, X., Li, X., Liu, C., Wang, J., Cao, X., and Zhuang, Y. Differences in catheterrelated complications to insertion site selection for long peripheral intravenous catheters in antimicrobial therapy: a randomized controlled trial. BMC nursing. 2025. 24(1), 131, https://doi.org/10.1186/s12912-025-02749-y.
14. Ferraz-Torres M, Diez-Revilla A, Plaza-Unzue R, and Corcuera-Martinez M. I. Analysis of complications associated with peripherally inserted central venous catheters. Prospective observational study. Revista Cuidarte. 2024. 15(3). https://doi.org/10.1016/j.jhin.2024.02.012.