LO ÂU GIAO TIẾP VỚI BỆNH NHÂN CỦA SINH VIÊN Y KHOA NĂM THỨ 3 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Giao tiếp y khoa là kỹ năng thiết yếu giúp sinh viên xây dựng mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân và nâng cao hiệu quả học tập. Tuy nhiên, sinh viên năm 3 khi mới học lâm sàng thường gặp nhiều lo âu gây ảnh hưởng trực tiếp đến học tập. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng lo âu giao tiếp với bệnh nhân và một số yếu tố liên quan của sinh viên y khoa năm thứ 3 trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 345 Sinh viên Y khoa năm thứ 3 học tại trường năm học 2024 – 2025. Kết quả: 44,1% sinh viên cảm thấy giao tiếp với bệnh nhân “Không dễ dàng” và 55,9% cảm thấy “Bình thường – Dễ dàng”. Tỉ lệ sinh viên tiếp xúc với 4 – 6 bệnh nhân trong một buổi học lâm sàng ở nhóm “Không dễ dàng” thấp hơn nhóm “Bình thường – Dễ dàng” (26,3% so với 38,9%, p = 0,023). Nhóm “Không dễ dàng” cũng có điểm trở ngại về tìm kiếm và xác minh thông tin cao hơn so với nhóm còn lại (35,5 ± 6,1 so với 34,1 ± 6,9, p = 0,041), và điểm trở ngại cảm xúc – xã hội cũng cao hơn rõ rệt (21,3 ± 5,2 so với 19,1 ± 6,4, p = 0,001). Sinh viên nữ và sinh viên dân tộc thiểu số có cảm nhận giao tiếp khó khăn hơn. Kết luận: Lo âu giao tiếp là tình trạng phổ biến ở sinh viên y khoa khi mới học lâm sàng, đặc biệt liên quan đến số lượng bệnh nhân được tiếp xúc và yếu tố cảm xúc – xã hội. Do đó, cần có những đánh giá sớm để có những hỗ trợ phù hợp cho sinh viên.
Từ khóa
Lo âu giao tiếp, giao tiếp, sinh viên y khoa, thực hành lâm sàng
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Tiwary A., Rimal A., Paudyal B., Sigdel K.R., and Basnyat B. Poor communication by health care professionals may lead to life-threatening complications: examples from two case reports. Wellcome Open Res. 2019. 4(7), 1–5, https://doi.org/10.12688/wellcomeopenres.15042.1.
3. Bộ Y tế, Quyết định số 1854/QĐ-BYT, ngày 18 tháng 5 năm 2015 về việc phê duyệt tài liệu “Chuẩn năng lực cơ bản của bác sĩ đa khoa”. 2015. https://asttmoh.vn/document_cat/van-banphap-quy-2/page/2/.
4. Hashemi Z., Shokrpour N., Valinejad M., and Hadavi M. Communication apprehension and level of anxiety in the medical students of Rafsanjan University of Medical Sciences. J Educ Health Promot. 2020. 9(1), 350–358, https://doi.org/10.4103/jehp.jehp_401_20.
5. Hasan, S., Al–Sharqawi, N., Dashti, F., AbdulAziz, M., Abdullah, A., Shukkur, M., Bouhaimed, M., & Thalib, L. Communication apprehension among medical students: A cross-sectional study from Saudi Arabia, Egypt, and Pakistan. Journal of Taibah University Medical Sciences. 2015. 10(6), 692–697, https://doi.org/10.1016/j.jtumed.2015.07.006.
6. Abdelaziz, M., Al–Faris, E., Irfan, F., Aloraini, S., Karim, A., Al–Rukban, M., and Abdulghani, H. Communication apprehension among medical students: A cross–sectional study. Journal of Family and Community Medicine. 2018. 25(1), 46 – 50, https://doi.org/10.4103/jfcm.JFCM_46_17.
7. Phạm Thị Thùy Dung, Nguyễn Phương Anh, Nguyễn Phương Anh, và Ngô Thị Thu Hiền. Lo âu ở sinh viên trường Đại học Phenikaa năm 2023 và một số yếu tố liên quan. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024. 534(2), 90–95, https://doi.org/10.51298/vmj.v534i2.8140.
8. Lê Thị Thanh Hoa, Nguyễn Đức Anh, Trương Thị Thùy Dương, Phạm Minh Huệ, Hoàng Thị Lệ Chi và Nguyễn Ngọc Anh. Thực trạng rối loạn lo âu xã hội ở sinh viên chính quy năm thứ nhất trường Đại học Y – Dược, Đại học Thái Nguyên năm 2023. Tạp Chí Y học Việt Nam. 2023. 539(2), 119–123, https://doi.org/10.51298/vmj.v539i2.9811.
9. Vũ Thị Lan Anh, Vũ Thị Thu Hường. Trở ngại tâm lý về nhận thức trong giao tiếp với bệnh nhân của sinh viên khoa Y Dược Trường Đại học Tây Nguyên khi thực hành lâm sàng. Tạp chí Khoa học Tây Nguyên. 2023. 17(58), 71–76, https://doi.org/10.5281/zenodo.7794141.
10. Cegala D., Coleman M., and Turner J. The development and partial assessment of the medical communication competence scale. Health communication. 1998. 10 (3), 261–288, https://doi.org/10.1207/s15327027hc1003_5.
11. Rubin R, Palmgreen P, Sypher H. Communication Anxiety Inventory. Communication Research Measures: Routledge. 2020. 109 – 113, https://doi.org/10.4324/9781003064343.
12. Nguyễn Thị Thu Thủy, Đặng Thùy Dương. Trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên năm thứ 3 ngành bác sĩ đa khoa trong quá trình thực hành lâm sàng. Tạp chí nghiên cứu y học. 2020. 130 (6), 210 – 219, https://doi.org/10.52852/tcncyh.v130i6.1566.
13. Betancourt, J. R., Green, A. R., Carrillo, J. E., & Ananeh-Firempong, O. Defining cultural competence: A practical framework for addressing racial/ethnic disparities in health and health care. Public Health Reports. 2003. 118(4), 293–302, http://doi.org/10.1016/S0033-3549(04)50253-4.
14. Kerr A., Thompson C. A longitudinal study of third–year medical students’ communication competence, communication anxiety, and attitudes toward patient–centered care. Patient Education and Counseling. 2022. 105 (5), 1298-1304, https://doi.org/10.1016/j.pec.2021.09.004.
15. Szalai–Szolcsányi, J., Warta, V., & Eklics, K. Empathic communication skill training in medical education. Health Education. 2022, 22(2), 14647. https://doi.org/10.4995/head22.2022.14647.