TÍNH GIÁ TRỊ CỦA VIA VÀ PAP TRONG SÀNG LỌC UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ TUỔI 21 – 65 Ở TỈNH AN GIANG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đối với phụ nữ, sàng lọc phát hiện sớm UTCTC nhằm giảm gánh nặng bệnh tật là ưu tiên hàng đầu ở các nước đang phát triển. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ bất thường và tính giá trị của phương pháp VIA và PAP trong sàng lọc ung thư cổ tử cung. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1.053 phụ nữ trong độ tuổi từ 21 - 65 trong tỉnh An Giang bằng phương pháp chọn mẫu cụm phân tầng. Phụ nữ được làm xét nghiệm VIA, PAP và giải phẫu bệnh để chẩn đoán ung thư cổ tử cung. Kết quả: Tỷ lệ VIA dương tính 6,4%; tỷ lệ PAP bất thường là 4,9%, trong đó kiểu hình ASC-US và ASC-H cùng chiếm tỷ lệ 0,1%, LSIL:0,1%; HSIL:0,2%; carcinoma:4,5%; giải phẫu bệnh bất thường là 4,84%. Độ nhạy của VIA là 100%, độ đặc hiệu là 98%; giá trị tiên đoán dương là 76,1%; giá trị tiên đoán âm là 100%. Độ nhạy của PAP là 98%, độ đặc hiệu 99,8%, giá trị tiên đoán dương và âm của PAP lần lượt là 96,2%, 99,9%. Kết luận: Phương pháp VIA và PAP có độ nhạy và độ đặc hiệu cao phù hợp để sàng lọc ung thư cổ tử cung trong cộng đồng.
Từ khóa
Tiền ung thư và ung thư cổ tử cung
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Bộ Y tế (2019), Thử nghiệm mô hình xã hội hóa cung cấp sản phẩm, dịch vụ dự phòng và sàng lọc ung thư vú, ung thư cổ tử cung tại cộng đồng thuộc Đề án đến năm 2030, Số: 1639/QĐBYT, ngày 19 tháng 03 năm 2021.
3. Bộ Y Tế (2019), Đề án thí điểm sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung và xử trí tại một số tỉnh giai đoạn 2019-2025, Số: 3877/QĐBYT, ngày 29 tháng 08 năm 2019
4. Bùi Diệu (2016), Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ 1.5 T của ung thư cổ tử cung. VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, số 2(32), tr. 82 - 92.
5. Trần Ngọc Dung và cộng sự (2016), Nghiên cứu tình hình nhiễm HPV ở phụ nữ thành phố Cần Thơ bằng kỹ thuật PCR. Sở Khoa học - Công nghệ thành phố Cần Thơ
6. Trần Thị Lợi (2009), Khảo sát giá trị của xét nghiệm VIA trong tầm soát tổn thương tiền ung thư cổ tử cung. Hội nghị phòng chống ung thư phụ khoa lần thứ V, tr. 2 - 27.
7. Dương Mỹ Linh và cộng sự (2020), biến đổi tế bào học cổ tử cung ở phụ nữ thành phố Cần Thơ giai đoạn 2013- 2020. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, số 35, tr. 86 - 93
8. Huỳnh Bá Tân (2012), Xây dựng mạng lưới sàng lọc ung thư cổ tử cung tại tuyến y tế cơ sở thành phố Đà Nẵng bằng phương pháp quan sát cổ tử cung sau bôi axit axêtic (VIA). Tạp chí phụ sản, số 2(30), tr.163 - 172.
9. Crispin Kahesa (2012), Risk factors for VIA positivity and determinants of screening attendances in Dar es Salaam, Tanzania. 12(1), pp. 1 - 8.
10. Dhaubhadel (2008), Early detection of precursors of cervical cancer with cervical cytology and visual inspection of cervix with acetic Acid. JNMA; journal of the Nepal Medical Association, 47(170), pp. 71 - 76.
11. Patti E Gravitt và Proma Paul (2010), Effectiveness of VIA, Pap, and HPV DNA testing in a cervical cancer screening program in a peri-urban community in Andhra Pradesh, India. PloS one, 5(10), pp. 137
12. Vahedpoor Zahra (2019), Comparison of the diagnostic value of the visual inspection with acetic acid (VIA) and Pap smear in cervical cancer screening. Taiwan J Obstet Gynecol, 58(3), pp. 345 - 348.
13. WHO (2020), WHO guideline for screening and treatment of cervical pre-cancer lesions for cervical cancer prevention, second edition.