ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG BẰNG CÔNG CỤ CONUT TRÊN BỆNH NHÂN SUY TIM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG NĂM 2020

Lê Nguyễn Quang Thái1, , Tất Thị Ánh Nguyệt1, Nguyễn Thị Diễm Phương1, Nguyễn Duy Tân1
1 Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Dinh dưỡng lâm sàng là một bộ phận không thể thiếu được trong các biện pháp điều trị tổng hợp cho người bệnh. Công tác đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh rất quan trọng nhằm dự phòng và phục hồi suy dinh dưỡng, nâng cao hiệu quả các giải pháp điều trị khác, góp phần làm giảm biến chứng, giảm tỷ lệ tái phát bệnh tật và tử vong cho người bệnh. Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh suy tim bằng công cụ CONUT (Controlling Nutritional Status); tìm hiểu một số yếu tố liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và thang điểm CONUT. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu theo mô tả cắt ngang trên 110 bệnh nhân có hồ sơ nhập viện tại khoa Nội Tim mạch – lão học Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2020. Kết quả: Kết quả đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo CONUT: suy dinh dưỡng nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất là 44,5%; trung bình là 30,0%, nặng là 0,9% và tình trạng dinh dưỡng bình thường là 24,5%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của nam theo thang điểm CONUT nhẹ là 13,6%, trung bình là 14,5%, nặng là 0,0%; tỷ lệ suy dinh dưỡng của nữ nhẹ là 30,9%, trung bình là 15,5% và suy dinh dưỡng trung bình là 0,9%. Yếu tố khẩu phần ăn và điểm SGA liên quan đến đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo CONUT. Kết luận: có thể sử dụng công cụ CONUT để đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng cận lâm sàng cho bệnh nhân để phát hiện sớm tình trạng suy dinh dưỡng. Bên cạnh đó nên kết hợp với công cụ SGA để có kết quả đánh giá chính xác hơn, từ đó lên kế hoạch can thiệp dinh dưỡng sớm cho bệnh nhân.   

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bộ môn Dinh dưỡng - An toàn vệ sinh thực phẩm (2017-2018), Tài lệu thực hành dinh dưỡng cơ sở, Trường đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, tr.21-33.
2. Bộ Y tế (2015), Hướng dẫn điều trị dinh dưỡng lâm sàng, Ban hành kèm theo Quyết định số 5517/QĐ-BYT ngày 25 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Nhà xuất bản y học Hà Nội, tr.46-53.
3. Đặng Trần Khiêm và Lưu Ngân Tâm (2011), "Tình trạng dinh dưỡng chu phẫu và kết quả
sớm sau mổ các bệnh gan mật tụy", Y học TP Hồ Chí Minh. 17(1), tr. 328-334.
4. Hồ Thị Phương Lan (2019), Tình trạng dinh dưỡng và đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại bệnh viên trung ương Huế, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm 15 (3).
5. Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2016), Khảo sát tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư tại khoa ung bướu bệnh viện Nhân dân 115, Hội nghị khoa học kỹ thuật chuyên đề Dinh dưỡng và phục hổi chức năng, Bệnh viện nhân dân 115.
6. Dương Thị Phượng (2016), Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Tạp chí nghiên cứu y học 106 (1) 2017, tr 163-169.
7. Lưu Ngân Tâm (2014), Sách dịch Những vấn đề cơ bản trong dinh dưỡng lâm sàng, Nhà xuất bản y học, tr 13-20.
8. Nguyễn Hà Thanh Uyên (2017), Tỷ lệ suy dinh dưỡng trước mổ bệnh nhân ung thư đại trực tràng và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Bình Dân thành phố Hồ Chí Minh năm 2017, Hội nghị khoa học kĩ thuật lần thứ 35, Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh.
9. Charles Mueller et al (2011), "Nutrition Screening, Asessment, and Intervention in Adults. A.S.P.E.N Clinical Guidelines", Journal of Parenteral and Enteral Nutrition.
10. Gonzalez-Madrono.A at al Ignacio de Ulibarri. J (2005), "CONUT: A tool for Controlling Nutritional Status. First validation in a hocpital population", Nutricion Hospitalaria. 20(1), pg. 38-45.
11. Masood Halder và Sanober Q. Haider (1984), "Assessment of Protein-Calorie Malnutrition", CLIN. CHEM. 30(8), pg. 1286-1299.