TÌNH HÌNH PHỐI HỢP THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP KÈM ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THỊ XÃ VĨNH CHÂU NĂM 2020
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: tăng huyết áp và đái tháo đường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tăng huyết áp làm cho bệnh đái tháo đường phát triển nhanh hơn và ngược lại. Tình trạng này đã gia tăng gánh nặng bệnh tật và tử vong tim mạch cho người bệnh. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Khảo sát đặc điểm sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường type 2 điều trị nội trú tại Trung tâm Y tế Thị xã Vĩnh Châu năm 2020. 2. Đánh giá việc sử dụng thuốc phù hợp theo khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam 2018. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 296 hồ sơ bệnh án tăng huyết áp mắc kèm đái tháo đường type 2 tại Trung tâm Y tế thị xã Vĩnh Châu. Kết quả: Nhóm ức chế men chuyển và nhóm chẹn kênh calci là 2 nhóm thuốc được dùng phổ biến nhất trong nghiên cứu này lần lượt chiếm 98,9% và 35,1%. Phác đồ đơn độc để điều trị tăng huyết áp chiếm tỷ lệ 62.1%, trong đó nhóm ức chế men chuyển chiếm tỷ lệ 42.6%. Phác đồ phối hợp thuốc chiếm tỷ lệ 37,9%, trong đó phối hợp 02 thuốc chiếm tỷ lệ 31,4%. Phối hợp nhóm ức chế men chuyển và nhóm chẹn kênh canxi chiếm tỷ lệ cao nhất 14,9%. Có 32,1% bệnh nhân sử dụng thuốc theo khuyến cáo của hội Tim mạch học Việt Nam năm 2018. Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc theo khuyến cáo còn thấp. Công tác dược lâm sàng cần phát huy vai trò tham mưu trong việc lựa chọn thuốc điều trị bệnh cho bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường type 2 và cập nhật các phác đồ điều trị mới theo khuyến cáo gởi các khoa phòng nhằm góp phần tăng hiệu quả điều trị.
Từ khóa
tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, điều trị nội trú
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Bộ Y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2 ban hành kèm Quyết định số 5481/QĐ-BYT.
3. Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam (2018), Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp 2018.
4. Châu Ngọc Hoa (2012), Bệnh học nội khoa, NXB Y học, trang 45-65.
5. Đoàn Thị Thu Hương (2015), Phân tích thực trạng sử dụng thuốc trên bệnh nhân tăng huyết áp mắc kèm đái tháo đường tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an, Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại Học Dược Hà Nội.
6. Nguyễn Hồng Sơn (2012), Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp có kèm đái tháo đường tại khoa nội tổng hợp bệnh viện đa khoa Dầu Giây huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai, Luận văn tốt nghiệp dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại Học Dược Hà Nội.
7. Trần Thiện Thanh (2014), Đánh giá tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại khoa nội bệnh viện đa khoa Quảng Trị, Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại Học Dược Hà Nội.
8. Colosia A.D (2013), “Prevalence of hypertensionand obesity in patients with type 2 diabetes mellitus in observational studies: asystematic literature review”, Diabetes, Metabolic Syndrome and Obesity: Targets and Therapy, 6, pp. 327-338.
9. Chokshi N.P (2013), “Blood Pressure and Diabetes”, Heart, 99(8), pp. 577-585.
10. Gitt A.K (2012), “Achievement of recommended glucose and blood pressure targets in patients with type 2 diabetes and hypertension in clinical practice-study rationale and protocol of DIALOGUE”, Cardiovascular Diabetology, 11, pp. 148-156.
11. Kasami R (2012), “Relationship BetweenCarotid Intima - Media Thickness and the Presence and Extent of CoronaryStenosis in Type 2 Diabetic Patients With Carotid Atherosclerosis but WithoutHistory of Coronary Artery Disease”, Diabetes Care, 34, pp. 468-470.