MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN UNG THƯ KHẨU HẦU TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU CẦN THƠ NĂM 2020

Trần Thị Hương Lý1, , Trần Ngọc Dung2, Võ Văn Kha1
1 Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ
2 Trường Đại học Y dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Ung thư khẩu hầu là ung thư phổ biến trên thế giới cũng như Việt Nam. Việc đánh giá tình hình ung thư khẩu hầu là cần thiết cho các khuyến nghị về phòng chống, phát hiện sớm và điều trị. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả một số đặc điểm và đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân ung thư khẩu hầu tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ năm 2020. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 71 bệnh nhân ung thư khẩu hầu nội trú tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ năm 2020. Kết quả: Tỉ lệ ung thư amydal, đáy lưỡi, khẩu cái mềm, thành bên và thành sau họng lần lượt là 26,8%; 39,4%; 18,3% và 15,5%. Carcinoma tế bào gai là 83,1%; 78% có độ mô học 2. Giai đoạn IVA 67,8%. Điều trị ban đầu gồm hóa xạ đồng thời, hóa trị, xạ trị đơn thuần và phẫu thuật lần lượt là 47,2%, 33,3%, 16,7% và 2,8%. Về kết quả điều trị, tỉ lệ đáp ứng hoàn toàn, một phần, ổn định và tiến triển lần lượt là 13,9%, 44,4%, 27,8% và 13,9%. Kết luận: Vị trí ung thư thường gặp nhất là đáy lưỡi. Carcinoma tế bào gai, độ 2 thường gặp nhất. Hóa xạ đồng thời chiếm tỉ lệ cao nhất trong các mô thức điều trị ban đầu. Tỉ lệ đáp ứng chung là 58,3%.  

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Hồng Long (2015), Đánh giá kết quả ban đầu hoá xạ đồng thời trong ung thư vòm hầu ở bệnh viện ung thư Đà Nẵng. Tạp chí ung thư học Việt Nam, số 1, 94-99.
2. Vũ Quảng Phong (2013), Nhận xét đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư biểu mô miệng ở một số bệnh viện tại Hà Nội, Luận văn thạc sỹ y học, Đại học Y Hà Nội.
3. Trần Minh Thông, Lại Văn Đoan (2011), Khảo sát đặc điểm dịch tể học - lâm sàng của 125 trường hợp carcinom vùng mũi họng. Tạp chí ung thư học Việt Nam, số 2, 49-54.
4. Phạm Nguyên Tường (2018), Khảo sát tỉ lệ và đặc điểm bệnh nhân ung thư biểu mô vảy đầu - cổ tại BV Trung ương Huế. Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung ương Huế, số 50, 11-17.
5. Phạm Nguyên Tường (2019), Đánh giá kết quả xạ trị điều biến liều các ung thư biểu mô vảy đầu - cổ. Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung ương Huế, số 55, 1-17.
6. Dechen Wangmo Tshering Vogela, Peter Zbaerenb and Harriet C Thoeny (2010), Review cancer of the oral cavity and oropharynx. Cancer Imaging, 10 (1), 62-72.
7. Fung N, Faraji F, Kang H (2017), The role of human papillomavirus on the prognosis and treatment of oropharyngeal carcinoma. Cancer Metastasis Rev, 36 (3), 449-461.
8. Kian Ang K, Jonathan Harris, Richard Wheeler (2010), Human papillomavirus and survival of patients with oropharyngeal cancer. The New England Journal of Medicine, 363 (1), 24-35.
9. Mu-Hung Tsai (2021), Association of Primary Treatment Modality for Advanced-Stage Oropharyngeal SCC with Survival Outcomes. JAMA Netw Open, 4 (6), e2112067.
10. Ricardo S P, Simone M F (2007), Epidemiologic study of squamous cell carcinoma of the mouth and oropharynx. Intl Arch Otorhinolaryngol, 11 (3), 271-277.