NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TIỀN SẢN GIẬT TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ NĂM 2019
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tiền sản giật là một tình trạng bệnh lý toàn thân rất phức tạp tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ rủi ro cho sức khỏe của thai phụ và thai nhi xảy ra trong giai đoạn mang thai. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị tiền sản giật tại
Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2019. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả. Cỡ mẫu là 109 trường hợp tiền sản giật được nhập viện tại Khoa Phụ sản, Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2019. Kết quả: Có 46,79% TSG có trị số huyết áp ≥160/110 mmHg và 53,71% TSG có trị số huyết áp <160/110 mmHg. Triệu chứng nặng là nhức đầu, đau thượng vị, và/hoặc phối hợp với mờ mắt. Có 48,57% trường hợp có biến chứng cho mẹ và thai nhi. Tuổi thai trung bình là 36,89 ± 2,86 tuần, trong đó, 42,20% ở tuổi thai 37- <39 tuần. Protein niệu là 1095,24 ± 913,98 mg/dl. Có 24,77% trường hợp có protein niệu từ 1 – 2 gram, 44,04% trường hợp có protein niệu là 0,5 gram đến 1 gram trong 24 giờ. Tiểu cầu là 196.367/mm3± 79.000/mm3. Tiểu cầu < 100.000/mm3 là 16,51%. Kết quả điều trị: Tỷ lệ mổ lấy thai là 94,5%, Chỉ định chấm dứt thai kỳ bằng mổ lấy thai là tiền sản giật nặng và/hoặc biến chứng chiếm tỷ lệ cao 58,25%, trọng lượng trẻ là 2795,872 ± 764,66 gram có 11,97% trẻ ≤ 2000 gram và 13,76% trẻ từ 2000 đến 2500 gram. Kết luận: Biến chứng của tiền sản giật đang có xu hướng tăng; điều trị chủ yếu là mổ lấy thai.
Từ khóa
tiền sản giật, mổ lấy thai
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Lê Hoài Chương (2013), Nhận xét một số triệu chứng lâm sàng ở thai phụ tiền sản giật nặng được mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, Tạp chí Y học Việt Nam. Tập 407 (số 1), tháng 6, tr 24-27.
3. Lê Thị Thu Hà (2014), Cập nhật chẩn đoán và xử trí rối loạn tăng huyết áp thai kỳ, Tạp chí Phụ Sản. Tập 12 (02- phụ bản), tr 63-67.
4. Lê Hoàng (2014), Mô tả đặc điểm của hội chứng HELLP tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương, Tạp chí Phụ Sản. Tập 12 (số 02), tr 93-95.
5. Lê Hoàng (2016), Nghiên cứu mối liên quan giữa một số triệu chứng lâm sàng chủ yếu với xét nghiệm chức năng thận của thai phụ tiền sản giật nặng, Y dược Lâm sàng 108. Tập 11 (Số 2), tr 163-168.
6. American College of Obstetricians and Gynecologists (2013), Chapter 2: Establishing the dianosis of preeclampsia and eclampsia, Hypertensive in Pregnancy, pp 17-20.
7. Annettee Nakimuli et al (2014), Pregnancy, parturition and preeclampsia in women of African ancestry, American Journal of Obstetrics and Gynecology, pp 510-520.
8. Chun Ye et al (2014), The 2011 survey on hypertensive dsorders of pregnancy (HDP) in China: Prevalence, risk factors, complications, pregnancy and perinatal outcomes, PLOS ONE, 9(6):e100180.
9. Eugene Belley Priso et al (2015), Trend in admissions, clinical features and outcome of preeclampsia and eclampsia as seen from the intensive care unit of the Douala General Hospital, Cameroon, Pan Affrican Medical Journal, pp 1-6.
10. Gilles Guerrier et al (2013), Factors associated with severe preeclampsia and elampsia in Jahun, Nigeria, International Journal of Women’s Health, 5, pp 509-513.
11. Gomathy E. et al (2018), Early onset and late onset preeclampsia-maternal and perinatal outcomes in a rural teritiary health center, Int J Reprod Contracept Obstet Gynecol, 7(6), pp 2266-2269.
12. Johanna Gunnarsdottir et al (2018), Prenatal exposure to preeclampsia is associated with accelerated height gain in early childhood, PLOS ONE, 13(2):e0192514.