ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tràn khí màng phổi tự phát (TKMPTP) do vỡ kén khí là một cấp cứu ngoại khoa Lồng Ngực- Tim mạch. Việc chẩn đoán và điều trị kịp thời những trường hợp vỡ kén khí gây tràn khí màng phổi là điều rất quan trọng để giảm tỷ lệ biến chứng và rút ngắn thời gian điều trị, đặc biệt là phẫu thuật nội soi khoang lồng ngực cắt kén khí phổi. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị TKMPTP tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2017-2020. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 35 trường hợp TKPMPTP được phẫu thuật nội soi cắt kén khí tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2017-2020. Kết quả: Trong 35 bệnh nhân TKMPTP, tỷ số nam:nữ là 16,5:1. 57,2% bệnh nhân có bệnh lý phối hợp, nhiều nhất là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và di chứng lao phổi cũ. Phổi phải thường bị thương tổn nhiều hơn. Khó thở (97,1%), đau ngực (80%) và tam chứng Galliard (100%) là triệu chứng thường gặp nhất. Hình ảnh trên Xquang lồng ngực hầu hết là tràn khí màng phổi lượng nhiều (91,4%). Hình ảnh trên cắt lớp vi tính (CT Scan) lồng ngực cho thấy 91,4% kén khí ở đỉnh phổi. 88% bệnh nhân được phẫu thuật cắt kén khí bằng stapler. Tỷ lệ thành công của phẫu thuật nội soi là 94,2%. Kết luận: Khó thở, đau ngực và dấu hiệu tam chứng Galliard là dấu hiệu lâm sàng kinh điển của Tràn khí màng phổi tự phát. CT Scan lồng ngực giúp phát hiện kén khí phổi và đánh giá chính xác lượng Tràn khí màng phổi. Phẫu thuật nội soi cắt kén khí phổi điều trị hiệu quả Tràn khí màng phổi tự phát với tỷ lệ thành công cao.
Từ khóa
tràn khí màng phổi, tự phát, nội soi lồng ngực
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Trần Minh Bảo Luân, Nguyễn Hoài Nam (2010), "Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát: cắt bóng khí bằng stapler hay khâu qua nội soi lồng ngực", Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh. tập 14, số 1, tr 123-128.
3. Nguyễn Hoài Nam (2006), Phẫu Thuật Nội Soi Lồng Ngực, Nhà xuất bản y học thành phố Hồ Chí Minh, tr 97-110.
4. Lý Kim Ngân (2018), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật điều trị tràn khí màng phổi tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ. Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ.
5. Phạm Vinh Quang (2010), Phẫu thuật nội soi điều trị tràn khí màng phổi tự phát, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr 67-74.
6. Đỗ Kim Quế (2010), "Điều trị kén khí phổi bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 14, số 2.
7. Lê Quốc Việt, Nguyễn Công Minh (2011), "Nghiên cứu đánh giá hiệu quả chống tái phát của tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát bằng phẫu thuật nội soi", Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh. tập 14, số 1, tr 144-149.
8. A. K Ayed, Chandrasekaran C., Sukumar M. (2009), "Video-assisted thoracoscopic surgery for primary spontaneous pneumothorax: clinicopathological correlation", European Journal of Cardio-Thoracic Surgery. 29 (2), pp 221-225.
9. K. B. Gupta, D. S. Mishra, S. Tandon, G. Sindhwani ,T. Tanwar (2003), "Role of chest CT scan in determining etiology of primary spontaneous pneumothorax", Indian Journal of Chest Dis Allied, pp 173-177.
10. C. S. Ng, T. W. Lee, S. Wan ,A. P. Yim (2006), "Video assisted thoracic surgery in the management of spontaneous pneumothorax: the current status", Postgrad Medicine, pp 179-185.