ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG BỆNH VIÊM TAI GIỮA MẠN TÍNH CÓ TỔN THƯƠNG XƯƠNG ĐE VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI THAY XƯƠNG ĐE BẰNG GỐM SINH HỌC TẠI CẦN THƠ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Viêm tai giữa mạn tính có tổn thương xương con là bệnh lý thường gặp. Phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa và thay xương đe bằng gốm sinh học là phương pháp và vật liệu mới trong điều trị bệnh lý này. Mục tiêu nghiên cứu: (1) Mô tả đặc điểm lâm sàng, CLS viêm tai giữa mạn tính ổn định có tổn thương xương đe; (2) Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa, thay xương đe bằng trụ gốm sinh học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 44 bệnh nhân được chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính ổn định có tổn thương xương đe được phẫu thuật tạo hình tai giữa và thay xương con bằng trụ gốm sinh học. Kết quả: (1) Đặc điểm lâm sàng: nghe kém (93,2%), ù tai (100%), đau tai (9,1%), chóng mặt (15,9%). Hình thái tổn thương xương con thường gặp nhất là tổn thương xương đe đơn thuần (61,4%), tổn thương đe-đạp chiếm (34,1%) và tổn thương cả 3 xương chiếm (4,1%). Trong đó tổn thương ngành xuống xương đe chiếm (66,7%) và tổn thương ngành ngang chiếm (7,4%).(2) Đặc điểm cận lâm sàng: trung bình khoảng cách đường khí đường xương (Air Bone Gap: ABG) trước phẫu thuật 36,3 ±12,7dB. Trung bình ABG sau phẫu thuật 10,2 ± 6 dB. Kết quả phẫu thuật: 97,7% màng nhĩ lành tốt, 97,7% xương đe đúng vị trí giải phẫu Kết luận: Phẫu thuật nội soi tái tạo hệ thống xương con là phẫu thuật ít xâm lấn, tiếp cận trực tiếp và giải quyết tốt tổn thương. Đây là phương pháp phẫu thuật có nhiều triển vọng. Gốm sinh học là vật liệu lý tưởng trong phẫu thuật tạo hình tai giữa thay xương con.
Từ khóa
Viêm tai giữa mạn tính(VTGMT), tạo hình xương con (THXC), gốm sinh học
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Nguyễn Tấn Phong (2004), “Phẫu thuật nội soi chức năng tai”. Nhà xuất bản Y học, tr 60-65.
3. Nguyễn Tấn Phong (2009), “Phẫu thuật nội soi chức năng tai”. Nhà xuất bản Y học, tr 181-195.
4. Cao Minh Thành (2008), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng viêm tai giữa mạn tổn thương xương con và đánh giá kết quả phẫu thuật THXC”.Luận văn tiến sỹ y học. Trường Đại học Y Hà Nội.
5. Gerlinger, I., Tóth, M., Lujber, L., Szanyi, I., Móricz, P., Somogyvári, K., ... & Mann, W(2019), “Necrosis of the long process of the incus following stapes surgery: new anatomical observations”, The Laryngoscope, 119(4), pp 721-726.
6. McGee M(1990), Non-Ossicle Homograft None Prostheses in the Middle Ear, The Laryngoscope, Vol 100, No 10, American Larynglogical, Rhinological and Otological Sociaty. Inc, pp 1-12.
7. McGee, Hough(1999), “Ossiculoplasty”, Otolaryngologic Clinics of North America, 32(3), pp 471-488.
8. Morris, D. P., Bance, M., van Wijhe, R. G., Kiefte, M., & Smith, R.(2014), “Optimum tension for partial ossicular replacement prosthesis reconstruction in the human middle ear”, The Laryngoscope, 114(2), pp 305-308.
9. O'Reilly, R. C., Cass, S. P., Hirsch, B. E., Kamerer, D. B., Bernat, R. A., & Poznanovic, S. P.(2015), “ Ossiculoplasty using incus interposition: