ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN U ỐNG TUYẾN MỒ HÔI TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2018-2020

Nguyễn Thị Thúy Liễu1, , Nguyễn Thị Thùy Trang1, Từ Mậu Xương1, Huỳnh Văn Bá 1
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Uống tuyến mồ hôi là một dạng u lành tính do sự phát triển quá mức của các tế bào ống tuyến mồ hôi. Tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng bệnh có ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ và tâm lý của bệnh nhân. Trên thế giới, u ống tuyến mồ hôi đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ đặc điểm lâm sàng cho đến phương pháp điều trị nhưng ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về bệnh lý này. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân u ống tuyến mồ hôi đến khám tại bệnh viện Đại học Y dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích 65 bệnh nhân mắc u ống tuyến mồ hôi đến khám tại bệnh viện trường Đại Học Y Dược Cần Thơ năm 2018-2020. Kết quả nghiên cứu: Bệnh nhân mắc bệnh từ 30-39 tuổi chiếm 41,5%, tuổi trung bình là 39,03±10,19. 90,8% bệnh nhân là nữ, tỷ số nữ/nam xấp xỉ 10/1. Thương tổn ở mi mắt dưới là 40%, màu sắc thương tổn như màu da bình thường xung quanh chiếm tỷ lệ cao nhất (55,4%), phần lớn u có kích thước 1-3mm2 (49,2%), 58,5% thương tổn ở dạng sẩn riêng lẻ và bệnh ở mức độ nhẹ chiếm 56,9%. Kết luận: U ống tuyến mồ hôi là bệnh thường gặp, nhất là ở nữ độ tuổi 30-39 tuổi, dễ chẩn đoán dựa vào đặc điểm lâm sàng của bệnh.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Y Tế (2015), Uống tuyến mồ hôi, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh Da liễu, tr. 238-240
2. Đào Hoàng Thiên Kim (2011), Nguyên cứu đặc điểm lâm sàng, yếu tố liên quan và hiệu quả điều trị u ống tuyến mồ hôi bằng laser CO2, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội.
3. Nguyễn Hữu Sáu (2010), Nghiên cứu một số yếu tố liên quan của u ống tuyến mồ hôi tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương, Tạp chí Y học thực hành, 764(5), tr. 21-24.
4. Nguyễn Văn Thường (2017), U ống tuyến mồ hôi, bệnh học da liễu, 3, tr. 44-51.
5. Ahn G. R., et al. (2019), Intralesional Electrocoagulation With Insulated Microneedle for the Treatment of Periorbital Syringomas: A Retrospective Analysis, Aesthet Surg J, 11 (1), pp. 1-23.
6. Ciarloni L., et al. (2016), Syringoma: A clinicopathological study of 244 cases, Ann Dermatol Venereol, 143(8-9), pp. 521-528.
7. Lee J. H., Chang J. Y., and Lee K. H. (2007), Syringoma: a clinicopathologic and immunohistologic study and results of treatment, Yonsei Med J, 48(1), pp. 35-40.
8. Lee S. J., et al. (2015), Treatment of periorbital syringoma by the pinhole method using a carbon dioxide laser in 29 Asian patients, J Cosmet Laser Ther, 17(5), pp. 273-276.
9. Requena L. and Sangüeza O. (2017), Syringoma, Cutaneous Adnexal Neoplasms, pp. 161-176.
10. Williams K. and Shinkai K. (2016), Evaluation and management of the patient with multiple syringomas: A systematic review of the literature, J Am Acad Dermatol, 74(6), pp.
1234-1240.