NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN VẢY NẾN TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU CẦN THƠ NĂM 2018-2020
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Vảy nến là bệnh lý thường gặp, mạn tính, qua trung gian miễn dịch với sự kích hoạt các yếu tố tiền viêm toàn thân. Có nhiều yếu tố góp mặt trong cơ chế bệnh sinh bệnh vảy nến, bao gồm cả các yếu tố môi trường và các yếu tố di truyền. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh vảy nến thông thường tại bệnh viện Da liễu Cần Thơ (từ tháng 3/2018-5/2020). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích 143 bệnh nhân bệnh vảy nến điều trị nội trú tại bệnh viện da liễu Cần Thơ năm 20182020. Kết quả: độ tuổi trung bình là 45,2 ± 17,3. Nhóm tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là từ 41-50 tuổi. Phần lớn bệnh nhân là nam chiếm 60,1%. Số bệnh nhân có BMI thuộc nhóm bình thường chiếm tỉ lệ cao nhất (73,4%), thấp nhất thuộc nhóm gầy (7,7%) và trung bình 21,64 ± 2,05. Số bệnh nhân có độ tuổi khởi phát thuộc nhóm 20-40 chiếm tỉ lệ cao nhất (50,3%), tuổi khởi phát trung bình là 36,03 ± 13,48. Số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh trong nhóm 1-5 năm chiếm tỉ lệ cao nhất (35,7%), kế đến là nhóm trên 10 năm chiếm 32,2%, thấp nhất thuộc nhóm 5-10 năm chiếm 15,4%. Vị trí khởi phát tại da đầu chiếm tỉ lệ cao nhất (67,1%). Đa số bệnh nhân tham gia nghiên cứu có thể vảy nến mảng chiếm 76,9%. Triệu chứng ngứa chiếm tỉ lệ cao nhất (89.5%). PASI mức độ trung bình chiếm tỉ lệ cao nhất (69,2%), nặng 21,7%, PASI trung bình 15,8 4,4. Yếu tố liên quan: yếu tố di truyền có 2,1%, không hút thuốc chiếm tỉ lệ 60,8%, tỉ lệ BN hiện đang hút và từng hút lần lượt là 23,1% và 16,1%, uống rượu, bia chiếm 46,9%, stress chiếm 35,7%, thấp nhất là nhiễm trùng tai mũi họng chiếm 12,6%. Kết luận: Tổn thương khởi phát chủ yếu vùng da đầu. Ngứa là triệu chứng cơ năng thường gặp nhất. PASI mức độ trung bình chiếm đa số.
Từ khóa
Bệnh vảy nến, yếu tố liên quan, PASI, khởi phát, đợt bùng phát
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Đỗ Tiến Bộ (2012), Đặc điểm lâm sàng, yếu tố liên quan và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến thông thường bằng uống vitamin A acid, Luận văn chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội.
3. Đặng Văn Em (2013), Một số bệnh tự miễn dịch thường gặp trong da liễu, Nhà xuất bản y học, tr. 317-510.
4. Nguyễn Trọng Hào (2016), Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân vảy nến và hiệu quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh vảy nến thông thường, Luận văn Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
5. A Trettel , et al (2017), The impact of age on psoriasis health care in Germany, J Eur Acad Dermatol Venereol, 31(5), pp. 870-875.
6. Arathi R Setty 1, et al (2007), Obesity, waist circumference, weight change, and the risk of psoriasis in women, Arch Intern Med, 167(15), pp. 1670-1675.
7. Azura Mohd Affandi (2018), Epidemiology and Clinical Features of Adult Patients with Psoriasis in Malaysia: 10-Year Review from the Malaysian Psoriasis Registry, Dermatol Res Pract.
8. Bayaraa, B., & Imafuku, S. (2018), Relationship between environmental factors, age of onset and familial history in Japanese patients with psoriasis, The Journal of Dermatology, 45(6), pp. 715–718.
9. Érida Silva Leovigildo, et al (2016), Stress level of people with psoriasis at a public hospital, An Bras Dermatol, 91(4), pp. 446–454
10. Love, T. J., Qureshi, A. A., et al (2011), Prevalence of the Metabolic Syndrome in Psoriasis, Archives of Dermatology, 147(4), page 419.
11. Magdalena Czarnecka-Operacz (2015), Itching sensation in psoriatic patients and its relation to body mass index and IL-17 and IL-31 concentrations, Postepy Dermatol Alergol, 32(6), pp. 426–430.
12. Mohammadreza Sobhan (2017), Associations between body mass index and severity of psoriasis, Clin Cosmet Investig Dermatol, 10, pp. 493–498.