NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VÔ SINH NỮ BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN QUỐC TẾ PHƯƠNG CHÂU NĂM 2019
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) là quá trình tạo thành phôi bên ngoài cơ thể. Hiện nay tỷ lệ thành công trung bình 40-50%, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị, các xét nghiệm đánh giá dự trữ buồng trứng còn nhiều tranh cãi và tiên lượng kết quả có thai chưa có xét nghiệm rõ ràng. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm chung, cận lâm sàng và kết quả có thai cộng dồn ở hai chu kỳ chuyển phôi trữ lạnh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phụ nữ làm thụ tinh trong ống nghiệm tại bệnh viện Quốc tế Phương Châu từ 3/2019 đến tháng 3/2020. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, có 180 bệnh nhân điều trị thụ tinh trong ống nghiệm có 2 lần chuyển phôi trữ lạnh. Kết quả: Độ tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu 32,21±4,0, giá trị AMH= 4,64 ± 2,78, số nang thứ cấp AFC= 15,53 ± 5,67, phân loại vô sinh nguyên phát chiếm 65,6% và 34,4% với vô sinh thứ phát. Tỷ lệ có thai cho lần chuyển phôi lần 1 và lần 2 lần lượt là 43,3%, 63,9%; tỷ lệ thai sinh hóa lần 1 là 18,3%, lần 2 là 10,0%; tỷ lệ thai lâm sàng lần lượt là 23,3% và 51,1%; kết quả HCG (+) chuyển phôi cộng dồn của 02 lần chuyển phôi là 78,2%; tỷ lệ thai lâm sàng 63,3%. Kết luận: Một chu kỳ kích thích buồng trứng làm thụ tinh trong ống nghiệm, có 02 lần chuyển phôi thì tỷ lệ có thai lâm sàng là 63,3%.
Từ khóa
Thụ tinh trong ống nghiệm, thai cộng dồn
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Vương Thị Ngọc Lan, Võ Minh Tuấn (2015), Giá trị các xét nghiệm AMH, FSH và AFC dự đoán đáp ứng Buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm. Luận văn tiến sỹ y học- Đại học Y Dược TP HCM.
3. Lê Viết Nguyên Sa, Cao Ngọc Thành (2013). Đánh giá mối liên quan giữa nồng độ FSH, E2, AMH huyết thanh và chỉ số AFC với đáp ứng kích thích Buồng trứng ở Bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm, Tạp chí Phụ Sản, số11(4), tr. 20-25.
4. Lê Minh Tâm (2017), Nguy cơ thai ngoài tử cung sau chuyển phôi thụ tinh trong ống nghiệm, Tạp chí Y học sinh sản, ố 43, tr. 45-47.
5. Abdullah, R. K., Liu, N., Zhao, Y., Shuang, Y., Shen, Z., Zeng, H., & Wu, J. (2020). Cumulative live-birth, perinatal and obstetric outcomes for POSEIDON groups after IVF/ICSI cycles: a single-center retrospective study. Scientific RepoRtS, 10(1), pp. 1-13.
6. Asada, Y., Morimoto, Y., Nakaoka, Y., Yamasaki, T., Suehiro, Y., Sugimoto & Irahara, M. (2017), Age‐specific serum anti‐Müllerian hormone concentration in Japanese women and its usefulness as a predictor of the ovarian response, Reproductive medicine and biology, 16(4), pp. 364-373.
7. Fréour, T., Barrière, P., & Masson, D. (2017), Anti-müllerian hormone levels and evolution in women of reproductive age with breast cancer treated with chemotherapy, European journal of cancer, (74), pp. 1-8.
8. Iliodromiti, S., Anderson, R. A., & Nelson, S. M. (2015), Technical and performance characteristics of anti-Müllerian hormone and antral follicle count as biomarkers of ovarian response, Human reproduction update, 21(6), pp. 698-710.
9. Kano, M., Sosulski, A. E., Zhang, L., Saatcioglu, H. D., Wang, D., Nagykery, N., & Pépin, D. (2017), AMH/MIS as a contraceptive that protects the ovarian reserve during chemotherapy, Proceedings of the National Academy of Sciences, 114(9), pp. 1688-1697.
10. Landersoe, S. K., Forman, J. L., Birch Petersen, K., Larsen, E. C., Nøhr, B., Hvidman, H. W., ... & Nyboe Andersen, A. (2020). Ovarian reserve markers in women using various hormonal contraceptives, The European Journal of Contraception & Reproductive Health Care, 25(1), pp. 65-71.
11. Polyzos, N. P., Drakopoulos, P., Parra, J., Pellicer, A., Santos-Ribeiro, S., Tournaye, H., ... & Garcia-Velasco, J. (2018), Cumulative live birth rates according to the number of oocytes retrieved after the first ovarian stimulation for in vitro fertilization/intracytoplasmic sperm injection: a multicenter multinational analysis including 15,000 women. Fertility and sterility, 110(4), 661-670.
12. Tarín, J. J., Pascual, E., Pérez-Hoyos, S., Gómez, R., García-Pérez, M. A., & Cano, A. (2020), Cumulative probabilities of live birth across multiple complete IVF/ICSI cycles: a call for attention, Journal of Assisted Reproduction and Genetics, 37(1), pp. 141-148.