NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TRƯỢT ĐỐT SỐNG THẮT LƯNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP HÀN XƯƠNG LIÊN THÂN ĐỐT LỐI SAU TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

Nguyễn Lê Hoan1, , Trần Văn Dương2, Huỳnh Thống Em3
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Bệnh viện Chợ Rẫy
3 Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Trượt đốt sống là sự di chuyển bất thường ra phía trước của thân đốt sống cùng với cuống, mỏm ngang và diện khớp phía trên. Chỉ định phẫu thuật khi có dấu hiệu mất vững, không đáp ứng với các phương pháp điều trị nội. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học của bệnh nhân trượt đốt sống thắt lưng và đánh giá kết quả điều trị trượt đốt sống thắt lưng bằng phương pháp hàn xương liên thân đốt lối sau tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 34 trường hợp trượt đốt sống thắt lưng được phẫu thuật hàn xương liên thân đốt lối sau tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 3 năm 2020. Kết quả: Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 58,48 tuổi (22-78), nữ nhiều hơn nam (1,43:1). Triệu chứng thường gặp nhất là đau lưng (100%), đi cách hồi (100%), dấu hiệu chèn ép rễ (70,6%), dấu hiệu ấn có điểm đau cạnh sống 64,7%. Tầng trượt thường gặp nhất là L4/L5 (41,2%), kế đến là L5/S1 (23,3%), tầng L3/L4 chỉ gặp 3 trường hợp (8,82%), có 8 trường hợp (23,3%) trượt 2 tầng. Mức độ trượt chủ yếu là độ 1 (85,3%). Thời gian mổ trung bình là 159,4 phút (80-255), lượng máu mất trung bình là 460ml (250-1000), có 16 trường hợp (47,1%) cần truyền máu. Sau mổ, 100% bệnh nhân có cải thiện triệu chứng (cả VAS lưng và VAS chân). Biến chứng tổn thương rễ gặp 1 trường hợp và đã hồi phục tốt, 1 trường hợp nhiễm trùng vết mổ nông, chưa ghi nhận biến chứng gãy dụng cụ. 21 trường hợp theo dõi trên 12 tháng cho kết quả liền xương tốt 66,7%, khá 33,3%, chưa ghi nhận trường hợp huỷ xương. Kết quả chung: tốt 41,2%, khá 52,9%, trung bình 5,9%, không có trường hợp nào kết quả kém. Kết luận: Phẫu thuật hàn xương liên thân đốt lối sau là một kỹ thuật an toàn, cho kết quả điều trị cao đối với các trường hợp trượt đốt sống thắt lưng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Lê Văn Cường (2017), Giải phẫu học hệ thống, Nhà xuất bản Y Học thành phố Hồ Chí Minh.
2. Nguyễn Thế Hanh (2012), Điều trị phẫu thuật trượt đốt sống thắt lưng mất vững bằng dụng cụ krypton, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Bá Hậu (2009), Đánh giá kết quả điều trị trượt đốt sống thắt lưng bằng cố định cột sống lối sau và ghép xương liên thân đốt, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
4. Phạm Vô Kỵ (2018), Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu điều trị trượt đốt sống thắt lưng một tầng, Luận án tiến sĩ Y học, Học viện Quân Y.
5. Bùi Huy Phụng (2000), Điều trị phẫu thuật hẹp ống sống thắt lưng do trượt đốt sống khuyết eo cung sau, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Võ Văn Sĩ, Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Thị Bảo Trâm (2012), Điều trị trượt đốt sống thắt lưng bằng phẫu thuật trong 7 năm tại khoa cột sống B – BV CTCH. Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Võ Văn Thanh (2014), Kết quả điều trị trượt đốt sống thắt lưng L4-L5 bằng phẫu thuật lấy đĩa đệm, cố định cột sống, ghép xương liên thân đốt, Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội.
8. Võ Văn Thành, Trần Quang Hiển, Lê Minh Trí ( 2016), Điều trị mất vững cột sống thắt lưng do trượt đốt sống thoái hóa bằng phẫu thuật cố định ốc chân cung và hàn liên thân đốt lối sau bằng nêm PEEK, Thời sự Y học tháng 9-2016, Chuyên đề cột sống.
9. Nguyễn Vũ (2015), Nghiên cứu điều trị trượt đốt sống thắt lưng bằng phương pháp cố định cột sống qua cuống kết hợp hàn xương liên thân đốt, luận án tiến sĩ y học, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
10. Arts, M., et al. (2006), Nerve root decompression without fusion in spondylolytic spondylolisthesis: long-term results of Gill’s procedure. European Spine Journal, 15(10): pp. 1455-1463.
11. Audat, Z., et al. (2012), Comparison of clinical and radiological results of posterolateral fusion, posterior lumbar interbody fusion and transforaminal lumbar interbody fusion techniques in the treatment of degenerative lumbar spine, Singapore medical journal. 53(3): pp. 183-187.
12. El-Soufy, M., et al. (2015), Clinical and Radiological Outcomes of Transforaminal Lumbar Interbody Fusion in Low-Grade Spondylolisthesis, Journal of Spine & Neurosurgery, 04 (02).
13. Farrokhi, M.R., A. Rahmanian, and M.S. Masoudi (2012), Posterolateral versus posterior interbody fusion in isthmic spondylolisthesis. Journal of neurotrauma, 29(8): pp. 1567-1573.
14. Frank H. Netter, (2007), Atlas de Anatomía Humana, 2007, Elsevier España.
15. Tsunehiko Konomi, Akimasa Yasuda, Kanehiro Fujiyoshi, Yoshiyuki Yato, Takashi Asazuma (2015), Incidences and Risk Factors for Postoperative Non-Union after Posterior Lumbar Interbody Fusion with Closed-Box Titanium Spacers, Asian Spine J, 14(1), pp. 106-112.
16. Xiaofei Cheng MD, Kai Zhang MD, Xiaojiang Sun MD, et al. (2017), Transforaminal lumbar interbody fusion for degenerative lumbar spondylolisthesis with stenosis, Spine Journal, 17(8): pp. 1127-1133.