SÀNG LỌC VÀ ĐỊNH DANH KHÁNG THỂ BẤT THƯỜNG KHÁNG HỒNG CẦU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN THIẾU MÁU MẠN CÓ CHỈ ĐỊNH TRUYỀN MÁU NĂM 2018-2019

Huỳnh Kim Gương1, , Trần Đỗ Hùng1, Lê Thị Hoàng Mỹ 1
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Sàng lọc và định danh các kháng thể kháng hồng cầu trước khi truyền máu đóng vai trò quan trọng trong giảm tỷ lệ tai biến gây ra bởi kháng thể bất thường sinh ra do truyền nhóm máu không tương thích. Mục tiêu nghiên cứu: 1) Xác định tỷ lệ và đặc điểm các loại kháng thể bất thường kháng hồng cầu. 2) Khảo sát một số yếu tố liên quan đến sự xuất hiện kháng thể bất thường kháng hồng cầu ở các bệnh nhân thiếu máu mạn có chỉ định truyền máu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 577 bệnh nhân thiếu máu mạn có chỉ định truyền máu tại một số bệnh viện ở Bạc Liêu và Cần Thơ năm 2019-2020. Kết quả: Kháng thể bất thường được phát hiện theo tỉ lệ giảm dần bao gồm antiE chiếm 2,3%, anti-Mia chiếm 1,0%, anti-c chiếm 0,5% và kháng thể bất thường khác chiếm tỷ lệ dưới 0,5%. Hệ nhóm máu Rh ghi nhận 2 kháng thể là anti-E và anti-c. Có sự khác biệt mang ý nghĩa về sự xuất hiện kháng thể bất thường giữa nhóm bệnh nhân truyền máu từ 5 lần trở lên so với nhóm truyền máu từ 1-4 lần. Kết luận: Có sự xuất hiện của các kháng thể bất thường kháng hồng cầu ở bệnh nhân thiếu máu mạn được truyền máu nhiều lần. Số lần truyền máu càng nhiều thì tỷ lệ xuất hiện kháng thể bất thường càng cao.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Thị Mai Anh, Nguyễn Anh Trí (2014), Những phát minh và tiến bộ trong lĩnh vực bảo đảm an toàn truyền máu trên thế giới và tại Việt Nam, Một số chuyên đề Huyết học Truyền máu, NXB Y học.
2. Vũ Đức Bình (2017), Nghiên cứu phát hiện kháng thể bất thường bằng bộ panel hồng cầu của Viện Huyết học - Truyền máu TW để đảm bảo truyền máu có hiệu lực, Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội.
3. Bộ Y tế (2015), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý huyết học (Ban hành kèm theo Quyết định số 1494/QĐ-BYT ngày 22/4/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế).
4. Nguyễn Thị Tuyết Trâm, Nguyễn Duy Thăng, Trần Văn Lượng, Hà Thúc Thuận, Phan Quang Hoàng Minh, Lê Thanh Hải (2013), Khảo sát kháng thể bất thường kháng hồng cầu bằng phản ứng hòa hợp tại khoa huyết học lâm sàng bệnh viện Trung ương Huế, Y học TP. Hồ Chí Minh. Số 05/2013, tr. 58-63.
5. Phạm Quang Vinh (2013), Hệ thống nhóm máu và ứng dụng trong truyền máu, Huyết học – Truyền máu cơ bản, Tài liệu đào tạo cử nhân kỹ thuật y học, NXB Y học.
6. Healsmith, S., Savoia, H., and Kane, S. C. (2019), How clinically important are non-D Rh antibodies?, Acta Obstet Gynecol Scand. 98(7), pp. 877-884.
7. Ko, K. H., et al. (2012), Frequency of unexpected antibody and consideration during transfusion, Korean J Anesthesiol. 62(5), pp. 412-7.
8. Nance S.T. (2010), Management of alloimmnized patients, ISBT Science Series, Vol. 5, pp. 274-278.
9. Norgaard, A., Gybel-Brask, M., Rieneck, K., Christensen, BK, El-Ghina, RZ, Johansson, PI, & Dziegiel, MH (2016), Managing the bleeding emergency in a patient with red cell antibodies, ISBT Science Series, Vol. 11. pp. 44-53.
10. Pirenne, F., & Vingert, B. (2016), Mechanisms underlying red-cell alloimmunization in sickle-cell disease, ISBT Science Series. 11, pp. 292-296.
11. Thornton, Nicole (2015), Serological tools for investigating immunohaematology problems, ISBT Science Series. 10, pp. 26-30.