NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN CHỨNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 Ở NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH NĂM 2019-2020
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mãn tính không lây, liên quan đến dinh dưỡng và lối sống, có tốc độ phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ biến chứng và các yếu tố liên quan đến biến chứng do ĐTĐ type 2 ở người dân Thành Phố Tây Ninh, năm 2019-2020. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 388 người bệnh ĐTĐ type 2 tại thành phố Tây Ninh từ 18 tuổi trở lên. Phương pháp thu thập số liệu qua thăm khám lâm sàng và phỏng vấn trực tiếp. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 26.0. Kết quả: Tỷ lệ biến chứng bệnh ĐTĐ type 2 là 40,2%. Các yếu tố liên quan đến biến chứng bệnh ĐTĐ type 2 cho thấy, bệnh nhân tuổi cao, thời gian mắc bệnh lâu năm, nghề nghiệp nông dân, trình độ học vấn thấp, tình trạng không sử dụng thuốc điều trị mỡ máu, có nguy cơ biến chứng ĐTĐ type 2 cao hơn nhóm còn lại, với p<0,05. Kết luận: Tỷ lệ biến chứng của bệnh ĐTĐ type 2 chiếm tỷ lệ khá cao (40,2%), trong đó, yếu tố liên quan tăng nguy cơ biến chứng là tuổi cao, thời gian mắc bệnh lâu năm, nghề nghiệp nông dân, học vấn thấp, tình trạng không sử dụng thuốc điều trị mỡ máu.
Từ khóa
Biến chứng đái tháo đường type 2, đái tháo đường type 2, thành phố Tây Ninh
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Bộ y tế (2017), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2, Quyết định số 3319/QĐ-BYT ngày 19 tháng 7 năm 2017.
3. Cục quản lý khám chữa bệnh (2017), Tài liệu tóm tắt Atlats về đái tháo đường của Liên đoàn Đái tháo đường thế giới (IDF). Ấn bản lần thứ 8, Bộ y tế.
4. Trần Văn Hùng (2018), Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả điều trị biến chứng đái tháo đường type 2 ở người 40-69 tuổi tại thành phố Cà Mau năm 2017-2018, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y dược Cần Thơ.
5. Huỳnh Văn Huân (2013), Nghiên cứu tình hình biến chứng và kết quả can thiệp kiến thức, thực hành phòng chống biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Ngã Bảy năm 2012, Luận án chuyên khoa cấp 2, Trường đại học y dược Cần Thơ.
6. Đoàn Đức Tuấn, Võ Phùng Nguyên (2011), Tình hình sử dụng kháng sinh điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại khoa nội tiết bệnh viện nhân dân Gia Định, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), tr. 538-544.
7. Trịnh Thanh Vân và cs (2016), Đánh giá kiến thức chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường type 2, Báo cáo khoa học, Bệnh viện Quân Y 7A.
8. Huang, X. L, J. H. Pan, D. Chen, J. Chen, F. Chen, T. T. Hu (2016), Efficacy of lifestyle interventions in patients with type 2 diabetes: A systematic review and meta-analysis, Eur J Intern Med. 27, pp. 37-47.
9. International Diabetes Federation (2017), IDF Diabetes Atlas, International Diabetes Federation, 8.
10. K. Juster-Switlyk, A. G. Smith (2016), Updates in diabetic peripheral neuropathy, F1000Res, 5.
11. P. Z. Marincic, M. V. Salazar, A. Hardin, S. Scott, S. X. Fan, P. R. Gaillard, C. Wyatt, L. Watson, P. Green, P. Glover, M. Hand (2019), Diabetes Self-Management Education and Medical Nutrition Therapy, J Acad Nutr Diet, 119 (3), pp. 449-463.
12. UK Prospective Diabetes Study Group (1998), Tight blood pressure control and risk of macrovascular and microvascular complications in type 2 diabetes: UKPDS 38. BMJ, 317 (7160), pp. 703-713.