NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XỬ TRÍ DÂY RỐN QUẤN CỔ TRÊN THAI ĐỦ THÁNG CHUYỂN DẠ SINH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2018 – 2020
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: dây rốn quấn cổ (DRQC) là một trong những bất thường của dây rốn chiếm khoảng 10-29% có ảnh hưởng đến thai nhi, đặc biệt là trong chuyển dạ. Mục tiêu nghiên cứu: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả xử trí dây rốn quấn cổ trên thai đủ tháng chuyển dạ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các thai phụ đủ tháng chuyển dạ có dây rốn quấn cổ đến nhập viện tại khoa Sanh Bệnh viện Phụ Sản thành phố Cần Thơ từ tháng 4/2018 đến tháng 7/2020. Kết quả nghiên cứu: Những sản phụ này có dấu hiệu ngôi đầu cao lỏng, không xuống sau mỗi cơn rặn hoặc bị kéo lên cao sau hết cơn rặn với 23,1%. Monitoring thai bất thường với 23,9%. Giá trị RI não giữa càng giảm theo tuổi thai và theo số vòng dây rốn quấn cổ. Giá trị RI của dây rốn có xu hướng tăng dần theo số vòng dây rốn quấn cổ. Tỷ lệ mổ lấy thai chiếm đa số với 67%. Tình trạng bé sơ sinh sau sanh đa số bình thường với 95,8%, dây rốn quanh cổ thai nhi quấn chặt kiểu B chiếm 22%. Bé phải gởi sơ sinh chiếm 4,2% nguyên nhân chủ yếu là do có nước ối lẫn phân su. Những trường hợp APGAR 5 phút < 7 điểm chiếm 1,5%. Kết luận: DRQC được chẩn đoán chủ yếu dựa vào siêu âm Doppler kết hợp với thay đổi trên biểu đồ theo dõi tim thai, Giá trị RI não giữa càng giảm theo tuổi thai và số vòng dây rốn quấn cổ, DRQC càng nhiều vòng thì làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thai nhi trong giai đoạn sổ thai.
Từ khóa
dây rốn quấn cổ, kết cục thai kỳ
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Bộ môn Phụ sản Trường Đại học Y dược Huế (2016), "Sinh lý chuyển dạ", Giáo trình Sản khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 135-145.
3. Bộ môn Phụ sản Trường Đại học Y dược Huế (2016), "Sự phát triển của thai và phần phụ của thai", Giáo trình sản khoa, Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội, tr. 40-52.
4. Võ Hoàng Thị Lan Hương (2017), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, siêu âm Doppler và đánh giá kết quả xử trí các trường hợp dây rốn quấn cổ thai nhi trong chuyển dạ tại khoa Sản – Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2016 – 2017, Luận văn Bác sỹ đa khoa, Đại học Y Dược Cần Thơ, Cần Thơ.
5. Nguyễn Thị Mỹ Linh và cộng sự (2012), "Giá trị Siêu âm Doppler trong chẩn đoán dây rốn quấn cổ tại BV ĐKTT An Giang", kỷ yếu Hội nghị Khoa học tháng 10/2012, trang 32-41.
6. Phong Thị Thanh Xuân (2014), Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler và Monitoring sản khoa trong chẩn đoán và đánh giá kết quả xử trí dây rốn quấn cổ trên thai đủ tháng chuyển dạ sanh tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, Luận án chuyên khoa cấp II, Đại Học Y Dược Cần Thơ.
7. Henry E (2013), "Neonatal outcomes following a tight nuchal cord", J Perinatol. 33(3), pp. 231-4.
8. Masad R (2020), "The effect of nuchal cord on perinatal mortality and long-term offspring morbidity", J Perinatol. 40(3), pp. 439-444.
9. Pergialiotis V (2019), "Evaluation of umbilical cord entanglement as a predictive factor of adverse pregnancy outcomes: A meta-analysis", Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol. 243, pp. 150-157.
10. Schreiber H (2019), "Adverse pregnancy outcomes and multiple nuchal cord loops", Arch Gynecol Obstet. 300(2), pp. 279-283.
11. Schreiber H (2018), "127: Multiple nuchal cord loops and neonatal outcomes", American Journal of Obstetrics and Gynecology. 218(1).
12. Sepulvedan W (2019), "Antenatal course and perinatal outcome after ultrasound detection of triple nuchal cord: a case series", J Matern Fetal Neonatal Med, pp. 1-6.
13. Tayade S (2018), "Is nuchal Cord a cause of concern?", Madridge J Womens Health Emancipation. 2(1), pp. 46-50.
14. Wang L (2016), "Nuchal cord complication in male small for gestational age increases fetal distress risk during labor", Taiwan J Obstet Gynecol. 55(4), pp. 568-74.