NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM TOXOCARA CANIS, STRONGYLOIDES STERCORALIS, ECHINOCOCCUS Ở BỆNH NHÂN NỔI MÀY ĐAY TẠI BỆNH VIỆN CHUYÊN KHOA TÂM THẦN VÀ DA LIỄU TỈNH HẬU GIANG NĂM 2019 – 2020
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Bệnh Toxocara canis, Strongyloides stercoralis, Echinococcus liên quan nhiều yếu tố và gây khó chịu như dị ứng ngứa, nổi mẫn, mày đay, ảnh hưởng đến sức khỏe. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ nhiễm và yếu tố liên quan đến nhiễm Toxocara canis, Strongyloides stercoralis, Echinococcus, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân nổi mày đay. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng ngứa, nổi mẫn, mày đay, nghiên cứu mô tả cắt ngang, thời gian từ tháng 02/2019 đến tháng 02/2020 tại Bệnh viện Chuyên khoa Tâm thần và Da liễu tỉnh Hậu Giang. Kết quả: bệnh nhân nữ chiếm 64,4%, nam 35,6%. Nông thôn chiếm 59,0%, thành thị 41,0%. Nhóm 40-60 tuổi chiếm cao nhất 32,1%, tuổi trung bình là 37,5±19,5. Xét nghiệm bằng ELISA tỉ lệ nhiễm Toxocara canis 76,8%, Strongyloides stercoralis 12,7%, Echinococcus 12,4%, nhiễm hai loại 11,4%, nhiễm ba loại 6,0%. Triệu chứng ngứa, nổi mẫn, mày đay chiếm 100%, đau đầu 29,5%, đau bụng, rối loạn tiêu hóa 5,4%, nhức mỏi, tê, đau cơ 6,7%, sốt 6,0%, thở khò khè, hen, viêm phổi 5,7%. Tăng bạch cầu ái toan chiếm 21,3%. Yếu tố có tẩy giun định kỳ cho chó 33,3% (OR=0,074(0,035-0,153), p<0,001), thói quen nghịch đất, tiếp xúc đất thường xuyên 88,2% (OR=2,885(1,583-5,256), p<0.001), có rửa tay với xà phòng sau khi ôm chó, sau khi tiếp xúc đất và trước khi ăn 45,8% (OR = 0,136(0,070-0,265), p<0.001) có liên quan đến nhiễm ký sinh trùng. Kết luận: nhiễm Toxocara canis, Strongyloides stercoralis, Echinococcus khá cao với triệu chứng ngứa, nổi mẫn, mày đay chiếm tỉ lệ 100%. Các yếu tố tẩy giun định kỳ cho chó, thói quen nghịch đất, tiếp xúc đất, rửa tay với xà phòng có liên quan với tỉ lệ nhiễm và có ý nghĩa thống kê.
Từ khóa
Toxocara, Strongyloides, Echinococcus, yếu tố liên quan, nổi mày đay
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Bộ Y Tế (2018), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh da liễu, Nhà Xuất Bản Y Học Bộ Y Tế, tr 149-153.
3. Trần Thị Kim Dung, Trần Phủ Mạnh Siêu, Bùi Trọng Hợp, Nguyễn Thị Minh Tuyết, Ngô Hùng Trí (2009), Tìm hiểu các đặc điểm của bệnh nhiễm giun lươn trên các bệnh nhân nhập viện có triệu chứng lâm sàng ở dạ dày tá tràng, Y học TP. HCM, 15(1), 137-141.
4. Đỗ Trung Dũng, Trần Thanh Dương, Nguyễn Thị Hợp, Hoàng Quang Vinh (2016), Thực trạng nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo Toxocara spp trên người tại một số điểm nghiên cứu thuộc Hà Nội và Hưng Yên năm 2014-2015, Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương, Viện Thú Y Quốc gia.
5. Trần Trọng Dương (2012), Nghiên cứu thực trạng, một số yếu tố nguy cơ nhiễm ấu trùng giun đũa chó trên người và hiệu quả điều trị bằng albendazole tại 2 xã thuộc huyện An Nhơn, Bình Định (2011-2012), Luận văn tiến sĩ y học, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng trung ương.
6. Đình Đông, Đỗ Văn Dũng, Phan Anh Tuấn và Nguyễn Thị Ngọc Dung (2011), Tỉ lệ nhiễm Toxocara sp. và các yếu tố liên quan của người dân Quận 2 trên 20 tuổi đến khám tại Bệnh viện Quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010, Y học TP. HCM, 15(1), 137-141.
7. Trình Thị Thu Hà, Nguyễn Thanh Luân, Trần Thị Mộng Điệp (2011), Nghiên cứu về đặc điểm dịch tể, lâm sàng và cận lâm sàng ở trẻ bị bệnh tiểu cầu có thực hiện huyết thanh chẩn đoán Toxocara canis 2001-2008, Y học TP. HCM, 15(2), 166-170.
8. Trần Thị Hồng, Lê Đức Vinh, Hoàng Thị Thanh Hằng (2012), Giá trị của phương pháp ELISA trong chẩn đoán nhiễm giun lươn Strongyloides stercoralis, Y học TP. Hồ Chí Minh, 16(1), 24-29.
9. Võ Thị Hải Lê, Nguyễn Văn Thọ (2011), Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó tại một số địa phương tỉnh Thanh Hóa, Khoa học kỹ thuật thú y, 18(6), 66-71.
10. Lê Thị Cẩm Ly, Trần Trung Hiếu (2016), Nghiên cứu tình hình nhiễm Toxocara canis trên bệnh nhân nổi mày đay tại Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2014-2015, Tạp chí Hội nghị Y Dược học Cần Thơ, (3-4), 358-363.
11. Trần Hữu Tâm (2017), Kỹ thuật chuyên ngành xét nghiệm, Nhà Xuất Bản Y Học, Trung tâm Kiểm chuẩn Tp. Hồ Chí Minh.
12. Bùi Văn Tuấn (2018), Thực trạng, một số yếu tố liên quan nhiễm ấu trùng giun đũa chó (Toxocara canis) ở người tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quãng Ngãi 2016 và hiệu quả một số biện pháp can thiệp, Luận văn tiến sĩ y tế công cộng, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương.
13. Huỳnh Hồng Quang, Triệu Nguyên Trung, Nguyễn Văn Chương, Hồ Văn Hoàng (2013), Lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu lực phác đồ albendazole trên bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun lươn Strongyloides stercoralis chưa biến chứng tại 5 tỉnh ven biển miền trung Việt Nam, Y học TP. Hồ Chí Minh, 17(1), 116-122.
14. Lê Thị Cẩm Vân (2016), Nghiên cứu tình hình nhiễm Echinococcus và Toxocara ở bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Đại học Y dược Cần Thơ, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ đa khoa, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.
15. Chi - Kwung Fan, Chien - Ching Hung, Wen - Yuan Du, Chien - Wei Lao, Kua - Eyre Su (2004), Seroepidemilogy of Toxocara canis infection among mountain aboriginal schoolchildren living in contaminated districts in Taiwan, Tropical Medicine International Health, 9(2), pp. 32-38.