ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, LOẠI VI KHUẨN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN HUYẾT SƠ SINH ĐỦ THÁNG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ NĂM 2019-2020
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh là vấn đề y tế rất đáng quan tâm bởi bệnh cảnh lâm sàng phức tạp, diễn tiến thường nặng, dễ để lại các di chứng và tỷ lệ tử vong cao đứng hàng thứ hai sau hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Mục tiêu nghiên cứu: 1) Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh đủ tháng; 2) Xác định loại vi khuẩn và tỷ lệ đề kháng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh đủ tháng tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2019-2020. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 50 trẻ sơ sinh đủ tháng từ 0-28 ngày tuổi được chẩn đoán nhiễm trùng huyết dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng tại khoa sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ từ tháng 04/2019 đến tháng 05/2020. Kết quả: Đặc điểm lâm sàng chủ yếu là sốt, co rút lồng ngực, bú kém, chướng bụng, giảm phản xạ tiên phát với tỷ lệ lần lượt là 52,0%, 54,0%, 80,0%, 72,0% và 40,0%. Các đặc điểm cận lâm sàng chính là bạch cầu tăng, Hct, CRP, prolacalcitonin và thâm nhiễm trên Xquang phổi với các tỷ lệ 40%, 56%, 28,9%, 92%, 45,2% và 96,2%. Tỷ lệ cấy máu dương tính là 36%, trong đó vi khuẩn Gram (-) chiếm 28%, vi khuẩn Gram (+) chiếm 72% (trong đó Staphylococcus 72%). Kết quả kháng sinh đồ cho thấy vi khuẩn Klebsiella 100% nhạy với Netromycin và Tienam, nhưng lại 100% với kháng Ampicillin và Gentamycin. Đối với vi khuẩn Staphylococcus, 100% nhạy với Vancomycin, 83,3% nhạy với Tienam nhưng 58,3% kháng với Cefotaxim, 66,7% với Ceftriaxon, và 75% với Erythromycin. Kháng sinh được điều trị phổ biến nhất là Cefotaxim 86%. Kết luận: Triệu chứng lâm sàng của nhiễm khuẩn huyết sơ sinh rất đa dạng, cận lâm sàng đặc trưng cho hội chứng đáp ứng viêm toàn thân. Tỷ lệ cấy máu dương tính thấp với 36%, trong đó vi khuẩn gram (+) chiếm đa số 72%. Vi khuẩn gram (-) nhạy với Tienam, Netromycin, và vi khuẩn gram (+) nhạy với Vancomycin và Tienam.
Từ khóa
Nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết, sơ sinh, sơ sinh đủ tháng
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Trần Hận Trường Nhân (2017), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị nhiễm trùng huyết sơ sinh tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2016-2017, Luận án chuyên khoa II, Trường ĐH Y Dược Cần Thơ.
3. Nguyễn Thị K im Nhi (2011), Khảo sát các yếu tố liên quan đến tử vong trong nhiễm khuẩn huyết sơ sinh tại bệnh viện Nhi Đồng 2, Tạp chí Y học Thành Phố Hồ Chí Minh, Tập 15, phụ bản số 1, tr 192-199.
4. Trần Thị Như Thúy và cộng sự (2013), Khảo sát giá trị tiên lượng của procalcitonin và lactate máu ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, tập 17 (1), tr. 249-254.
5. Nguyễn Ngọc Vi Thư (2019), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị nhiễm trùng huyết sơ sinh tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2017-2019, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.
6. Nguyễn Đức Toàn (2017), Nhiễm trùng sơ sinh, Bài giảng Nhi khoa, Nhà xuất bản Y học, Trường Đại học Y Dược Phạm Ngọc Thạch, tr. 102-119.
7. Adrienne G Randolph and Russell J McCulloh (2014), Pediatric sepsis: Important considerations for diagnosing and managing severe infections in infants, children, and adolescents, Virulence, 5(1), pp. 179-189.
8. Amutha Chelliah & et al (2014), Isolation of MRSA, ESBL and Amp C- β-lactamases from neonatal sepsis at a tertiary care hospital, Journal of Clinical and Diagnostic Research, 8 (6).
9. Gowda H, Norton R, White A, Kandasamy Y (2017), Late-onset Neonatal Sepsis—A 10-year Review From North Queensland, Australia, The Pediatric infectious Diseases Journal, 36(9), pp. 883-888.
10. Klein J.O (1995), Bacterial sepsis and meningitis, Infectious diseases of the fetus and newborn infant, W.B. Saunder Company, pp, 835-878.