BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT NGUYÊN NHÂN GÂY PHẢN ỨNG CHÉO KHÔNG HÒA HỢP VÀ NHẬN XÉT MỘT SỐ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP GELCARD TRÊN HỆ THỐNG MÁY ACROSS SYSTEM TẠI KHOA XÉT NGHIỆM, BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

Nguyễn Long Quốc1, , Trương Minh Sáng1, Lâm Thị Kim Hai1, Nguyễn Trọng Nghĩa1, Nguyễn Kim Cương1
1 Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Xét nghiệm phản ứng chéo (crossmatch) đóng vai trò rất quan trọng trong truyền máu. Khoa Xét nghiệm đã triển khai crossmatch bằng phương pháp gelcard trên máy Across system từ tháng 10/2020, vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá một số kết quả hoạt động của hệ thống. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ và nguyên nhân gây phản ứng chéo không hòa hợp khi truyền khối hồng cầu và nhận xét một số ưu nhược điểm của phương pháp gelcard trên hệ thống máy Across system - DiaPro so với phương pháp ống nghiệm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 39 bệnh nhân được chỉ định truyền khối hồng cầu và thực hiện phản ứng chéo 3 giai đoạn bằng phương pháp gelcard và ống nghiệm trước truyền máu. Kết quả: 1/39 (2,56%) mẫu máu có phản ứng chéo không hòa hợp do xuất hiện kháng thể bất thường kháng hồng cầu. Kỹ thuật phản ứng chéo trên gelcard và ống nghiệm cho kết quả phù hợp với nhau trong 100% trường hợp. Thời gian trung bình để thực hiện phản ứng chéo bằng phương pháp gelcard là 30,1 ± 2,1 phút, rút ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so thời gian của phương pháp ống nghiệm là 60,4 ± 12,3 phút (p < 0,05); thời gian trung bình lưu trữ kết quả dùng để hậu kiểm của phương pháp gelcard là 5 ± 0,56 ngày, của ống nghiệm tối đa là 1 ngày (p < 0,05). Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân có phản ứng chéo không hòa hợp chiếm 2,56% và 100% do xuất hiện kháng thể bất thường; phương pháp gelcard có nhiều ưu điểm vượt trội so với phương pháp ống nghiệm truyền thống.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Y tế (2013), Thông tư số 26/2013/TT-BYT ngày 16/09/2013 về Hướng dẫn hoạt động truyền máu.
2. Bộ Y tế (2017), Quyết định số 3336/QĐ-BYT ngày 20/07/2017 về Hướng dẫn quy trình kỹ thuật Huyết học-Truyền máu-Miễn dịch-Di truyền-Sinh học phân tử.
3. Đỗ Trung Phấn (2013), Kỹ thuật Huyết học và Truyền máu ứng dụng trong lâm sàng, NXB Y học, trang 329-330.
4. Nguyễn Long Quốc, Nguyễn Trung Kiên (2019), Bước đầu định danh kháng thể bất thường kháng hồng cầu và đánh giá kết quả truyền khối hồng cầu ở bệnh nhân thalassemia, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, số 22-29/2019, trang 194-199.
5. John W. Adamson (2008), The Anemia of Inflammation/Malignancy: Mechanisms and Management, Hematology Am Soc Hematol Educ Program (2008), 2008 (1), pp. 159-165.
6. Barbara J Bain (2017), Dacie and Lewis Practical Haematology, 12th Ed, Elsevier Churchill Living Stone, pp. 472-494.
7. Bhattacharya P, Samanta E, Afroza N, Naik A, Biswas R (2018), An approach to incompatible cross-matched red cells: Our experience in a major regional blood transfusion center at Kolkata, Eastern India, Asian J Transfus Sci 2018; 12, pp. 51-56.
8. D A Derr, S J Dickerson, E A Steiner (1998), Implementation of gel column technology, including comparative testing of Ortho ID-MTS with standard polyethylene glycol tube tests, Immunohematology 1998; 14(2), pp. 72-74.
9. Michael F. Murphy, David J. Roberts and Mark H. Yazer (2017), Practical Transfusion Medicine, 5th Ed, Wiley, pp. 58-68.
10. Novaretti MCZ, Jens ES, et al. (2000), Comparison of tube and gel technique for antibody identification, Immunohaematology 2000; 16, pp. 138-141.
11. Col D Swarup, Brig PS Dhot et al (2007), Comparative Study of Blood Cross Matching Using Conventional Tube and Gel Method, MJAFI 2008; 64, pp. 129-130.
12. Vidushi, Sidhu M, Shah SN. (2020), Evaluation of incompatible crossmatch, Glob J Transfus Med 2020; 5, pp. 68-72.