PHẪU THUẬT CẮT THỰC QUẢN NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN: KINH NGHIỆM BƯỚC ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

Phạm Văn Năng1, , Nguyễn Văn Tuấn1, Mai Văn Đợi1, Nguyễn Văn Hiên1, Lâm Hoàng Huấn1, Nguyễn Lê Gia Kiệt1, Liêu Vĩnh Đạt1
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Hai phương pháp mổ mở cắt thực quản phổ biến của Ivor Lewis và cắt qua khe hoành điều trị ung thư thực quản có tỉ lệ biến chứng cao (20-46%). Gần đây, phẫu thuật cắt thực quản nội soi đã chứng tỏ là phương pháp an toàn, tỉ lệ tử vong thấp (1,4%-8%), thời gian nằm viện ngắn và kết quả về ung thư học tương đương với mổ mở. Chúng tôi báo cáo kinh nghiệm bước đầu về phẫu thuật cắt thực quản nội soi. Mục tiêu nghiên cứu: 1). Nhận xét về chỉ định và kỹ thuật mổ cắt thực quản nội soi; 2). Đánh giá kết quả của phẫu thuật nội soi cắt thực quản. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu hồi cứu, mô tả một loạt trường hợp ung thư thực quản có chỉ định mổ cắt thực quản nội soi từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 9 năm 2021 tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Kết quả: Có 25 bệnh nhân (24 nam và 1 nữ), tuổi trung bình: 59 ± 9,2 tuổi (41-81 tuổi), thương tổn ung thư ở 1/3 giữa (40%) và 1/3 dưới thực quản (60%). Khi nội soi lồng ngực, có 2 ca không cắt được và được đặt stent thực quản cho một bệnh nhân và mở dạ dày nuôi ăn cho bệnh nhân còn lại. Có 1 trường hợp bị rách khí quản trong lúc phẫu tích. Các biến chứng sau mổ bao gồm: 9 (39,1%) bệnh nhân biến chứng hô hấp với 6 trường hợp viêm phổi và 3 trường hợp tràn dịch màng phổi đều ổn định sau điều trị nội khoa, 2 (8,7%) trường hợp xì miệng nối. Hai bệnh nhân xì miệng nối phải mổ lại và 1 trong 2 trường hợp này tử vong sau mổ. Thời gian nằm ICU trung bình: 4,2 ±2,4 ngày. Thời gian nằm viện trung bình là 18,2 ± 4,8 ngày. Số hạch trung thất nạo vét được trung bình: 9,1 ± 3,8 hạch, số hạch ổ bụng nạo vét được trung bình: 9,6 ± 1,5 hạch. Giải phẫu bệnh: 88% là loại carcinôm tế bào gai. Có một trường họp hẹp miệng nối. Kết luận: Phẫu thuật cắt thực quản nội soi điều trị ung thư thực quản là khả thi, tỉ lệ biến chứng và tử vong chấp nhận được.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

viện Việt Tiệp, Hải Phòng’’. Y học Việt Nam. Tập 368. tr. 39 – 41.
2. Nguyễn Xuân Hòa, Cắt thực quản qua nội soi ngực-bụng. Bộ Y tế, Qui trình kỹ thuật bệnh viện. 2017: 406-409.
3. Nguyễn Minh Hải, Trần Phùng Dũng Tiến, Lâm Việt Trung, Trần Vũ Đức, Nguyễn Thị Minh Huê (2010),“Phẫu thuật nội soi ngực bụng điều trị ung thư thực quản1/3 giữa và dưới’’. Hội Ngoại khoa Việt Nam. Số 4-5-6.tr.330 – 336.
4. Ho Huu Thien, Tran Nghiem Trung, Pham Trung Vy, Phan Hai Thanh, Nguyen Thanh Xuan, Pham Xuan Dong, Mai Trung Hieu, Van Tien Nhan, Pham Nhu Hiep (2021), “Outcome for esophageal cancer following thoraco-laparoscopic esophagectomy: A single institution experience”. Ann. Cancer Res. Ther, 29(1), pp. 68-72
5. Phạm Đức Huấn (2003), “Nghiên cứu điều trị phẫu thuật ung thư thực quản ngực”, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
6. Triệu Triều Dương, Phạm Hữu Vinh (2014). Đánh giá kết quả điều trị ung thư thực quản 1/3 giữa-dưới bằng phẫu thuật nội soi. Y học thực hành. 902, tr 2-3.
7. Akaishi T, Kaneda I, Higuchi N, et.al. “Thoracoscopic en bloc total esophagectomy with radical mediastinal lymphadenectomy” J thorac cardiovasc Surg, 112, pp.1533-1541.
8. Altorki N, Skiner D (2001): “Should en bloc esophagectomy be the standard of care for esophageal carcinoma? ” Ann surg, 234(5), pp. 581- 587.
9. Bernard M, Smithers, et.al, “Comparison of outcome between open and minimally invasive esophagectomy”, Ann surg, 245, pp.232-240.
10. Bhutani MS, Bard CJ, Marker RJ, et.al (2012)“Length of esophageal cancer and degree of luminal stenosis during upper endoscopy predict T stage by endoscopic ultrasound”, Endoscopy, 34, pp.461-463.
11. Luketich JD, Alvelo-Rivera M, Buenaventura PO, Christie NA, McCaughan JS, Litle VR, et al (2003) “Minimally invasive esophagectomy: outcomes in 222 patients”, Ann Surg, 238 (4), pp.486-494.
12. Birkmeyer JD, Siewers AE, Finlayson EVA, et al (2002), “Hospital volume and surgical mortality in the United States”, N Eng J Med, 346, pp. 1128– 1137.