TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÝ ĐẠI TRÀNG Ở CÁC BỆNH NHÂN ĐẾN NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Bệnh lý đại tràng ngày càng phát hiện được nhiều nhờ vào phương tiện nội soi đại tràng, đặc biệt ung thư đại trực tràng. Hàng năm, Bệnh viện trường Đại học Y Dược Cần Thơ có nhiều bệnh nhân đến khám, điều trị và nội soi đại tràng. Vì vậy, chúng tôi muốn xây dựng mô hình bệnh tật các bệnh lý đại tràng ở các bệnh nhân đến khám và nội soi đại tràng tại Bệnh viện trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm lâm sàng, tỷ lệ các bệnh lý đại tràng và mối liên quan giữa lâm sàng và hình ảnh nội soi ở các bệnh nhân đến khám tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả tiến cứu, cắt ngang trên 722 bệnh nhân đến khám và nội soi tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trong 6 tháng đầu năm 2021. Kết quả: Tỷ lệ bệnh lý đại tràng qua nội soi có 35,4% bình thường, 31,3% polyp, 10% viêm loét đại tràng, 6,1% u đại tràng và 4% túi thừa. Mối liên quan giữa triệu chứng đau bụng, rối loạn đại tiện, rối loạn tính chất phân và bệnh lý viêm loét đại tràng, u đại tràng, mối liên quan giữa nhóm tuổi và bệnh lý polyp, u đại tràng với p<0,05. Kết luận: Nội soi đại tràng rất cần thiết ở các bệnh nhân ≥40 tuổi, có rối loạn đại tiện và rối loạn tính chất phân để phát hiện sớm các bệnh lý đại tràng.
Từ khóa
Các bệnh lý đại tràng, nội soi đại tràng
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. Vũ Văn Khiên và Khúc Đình Minh (2007), “Hiệu quả điều trị 40 trường hợp viêm loét đại trực tràng tại bệnh viện trung ương quân đội 108”, Tạp chí y dược lâm sàng, 1 (2), 38-42. 3. Hoàng Đăng Mịch, Lê văn Thiệu (2010), “Nhận xét một số bệnh thường gặp ở đại trực tràng qua 1402 trường hợp nội soi”, Tạp chí Y học Việt Nam tháng 2, tập 365 (1), tr.41-44.
4. Lê Quang Nghĩa, Nguyễn Thúy Oanh (2003), “Kết quả chẩn đoán 173 trường hợp ung thư qua nội soi đại tràng bằng ống mềm”, Tạp chí Y học TPHCM, tập 7(1), tr 148-154.
5. Huỳnh Hiếu Tâm, Nguyễn Lê Trang Vy (2014), “Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh nội soi của bệnh lý đại tràng ở bệnh nhân đến khám tại bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ”, Tạp chí Y học thực hành số 944, tr. 370-373.
6. Lê Văn Thiệu, Phạm Văn Nhiên (2011), “Nhận xét 4500 trường hợp nội soi đại tràng tại Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng”, Hội nghị khoa học Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp lần thứ 37, tr. 56-60.
7. Aghdaei, Hamid Asadzadeh, et al. (2017), "Polyp detection rate and pathological features in patients undergoing a comprehensive colonoscopy screening", World journal of gastrointestinal pathophysiology, 8(1), pp. 3-10.
8. Hiroshi Nakase, Motoi Uchino, Shinichiro Shinzaki, Evidence-based clinical practice guidelines for inflammatory bowel disease 2020, J Gastroenterol 2021, 56, pp. 489-526.
9. Sung, Hyuna, et al. (2021), "Global cancer statistics 2020: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries", CA: a cancer journal for clinicians. 71(3), pp. 209-249.