THE CLINICAL FEATURES AND MAGNETIC RESONANCE IMAGING OF LUMBAR SPONDYLOSIS WITH NERVE COMPRESSION AT CAN THO UNIVERSITY OF MEDICINE AND PHARMACY HOSPITAL IN 2020-2021

Phuoc Thai Tran1,, Vu Dang Nguyen1
1 Can Tho University of Medicine and Pharmacy

Main Article Content

Abstract

  Background: Lumbar spondylosis is a chronic disease that causes pain, limitation of movement or deformity of the lumbar spine. Nerve compression is a consequence of spinal degeneration associated with disc herniation or spinal stenosis. Magnetic resonance imaging (MRI) is a valuable tool in diagnosing nerve compression, from which appropriate treatment for the patient. Objectives: Description of clinical features, magnetic resonance imaging and the correlation in lumbar spondylosis with nerve compression at Can Tho University of Medicine and Pharmacy Hospital in 2020-2021. Materials and methods: A cross-sectional descriptive study on 102 patients with a confirmed diagnosis on MRI as lumbar spondylosis with nerve compression. Results:  The most common clinical symptom and also the reason for the patient's hospitalization is back pain, accounting for 95%; muscle atrophy accounted for 5.9%; Lasègue sign was positive with the rate of 53.9%. Magnetic resonance imaging recorded lumbar spondylosis according to Modic classification: Modic 1 (20.6%), Modic 2 (70.6%) Modic 3 (8.8%); herniated disc is the main cause of nerve compression, accounting for 81.4%; L5 nerve root was most compressed, accounting for 90%. The correlation between the clinical degree of nerve root compression and MRI: Spearman correlation coefficient r=0.57 (p<0.001). Conclusion: There is a strong correlation between the clinical degree of nerve root compression and MRI.

Article Details

References

1. Bộ y tế (2014), Quyết định số 361/QĐ-BYT về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh về cơ xương khớp.
2. Nguyễn Văn Chương (2017), “Nghiên cứu một số đặc điểm thay đổi Modic ở bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng”. Tạp chí Y học Việt Nam 2017 – số 629, tr. 119-123.
3. Lê Thị Hoàng Liên (2020), “Tương quan của hình ảnh cộng hưởng từ với triệu chứng lâm sàng của bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng”, Điện quang Việt Nam, số 41-12/2020.
4. Võ Hoàng Nghiệp (2010), “Đặc điểm hình ảnh học trên bệnh nhân đau vùng thắt lưng”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh-Tập 14 số 1 năm 2010.
5. Lê Văn Phước (2011), Cộng hưởng từ cột sống, NXB Y học, tr.22-40.
6. Võ Văn Thanh, (2014), “Kết quả điều trị trượt đốt sống thắt lưng L4-L5 bằng phẫu thuật lấy đĩa đệm, cố định cột sống, ghép xương liên thân đốt”, Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ nội trú, Trường Đại học y Hà Nội.
7. Lê Xuân Trung, Thoát vị đĩa đệm cột sống, Thần kinh học lâm sàng, NXB Y học, 1995.
8. Bùi Quang Tuyển (2007), Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống, NXB y học Hà Nội, tr. 105-121.
9. Arnbak B, Jensen T.S, Egund N et al (2015), “Prevalence of degenerative and spondyloarthritisrelated magnetic resonance imaging findings in the spine and sacroiliac joints in patients with persistent low back pain”, European Radiology, 26(4), pp. 1191-1203.
10. Cailliet, R. (1995), Low Back Pain Syndrome, 5th Edition, F.A. Davis, Philadelphia, pp. 225-229.
11. Janardhana AP, Rajagopal, Rao S, Kamath A (2010), “Correlation between clinical features and magnetic resonance imaging findings in lumbar disc prolapse”, Indian J Orthop 2010, 44:3:263-9.
12. Pfirrmann C.W.A, Dora C, Schmid M.R et al (2004), “MR Image–based Grading of Lumbar Nerve Root Compromise due to Disk Herniation: Reliability Study with Surgical Correlation”, Radiology 2004, 230, 583-588.
13. Wáng Y.X.J, Wáng J.Q, Káplár Z (2016), “Increased low back pain prevalence in females than in males after menopause age: evidences based on synthetic literature review”, Quant Imaging Med Surg, 6(2), 199-206.