NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ DOPPLER NÃO - NHAU TRÊN THAI PHỤ ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH MỔ LẤY THAI VÌ SUY THAI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2024 - 2025

Trương Huỳnh Ngân1, Lê Hoàng Mai Thy1, Nguyễn Tân Tiến1, Nguyễn Phạm Song Thư1, Phan Viết Đạt1, Võ Châu Quỳnh Anh1,
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

 Đặt vấn đề: Suy thai cấp trong chuyển dạ là nguyên nhân quan trọng gây tử vong và bệnh tật chu sinh. Chỉ số Doppler não–nhau (CPR) phản ánh sự thay đổi tuần hoàn thai nhi trong bối cảnh giảm oxy hoặc suy giảm chức năng nhau. Nhiều nghiên cứu cho thấy siêu âm Doppler động mạch não giữa và động mạch rốn (CPR), giúp phát hiện sớm thai suy, thai chậm phát triển trong tử cung và có giá trị tiên đoán kết cục chu sinh bất lợi. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của thai phụ được chỉ định mổ lấy thai vì suy thai tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2024–2025 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chỉ số Doppler não – nhau ở thai phụ được chỉ định mổ lấy thai vì suy thai tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 20242025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến hành trên 270 thai phụ mang thai ≥37 tuần được chẩn đoán suy thai và được mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ trong thời gian từ tháng 11/2024 đến tháng 08/2025. Kết quả: Trong tổng số 270 thai phụ tham gia nghiên cứu, nước ối lẫn phân su chiếm 65,6%; kiểu hình monitoring nhóm 3 chiếm 7,8% và có 44 trường hợp ghi nhận chỉ số Doppler não–nhau bất thường, chiếm 16,30%. Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan giữa tình trạng nước ối lẫn phân su, kiểu hình theo dõi nhịp tim thai và chỉ số Doppler não–nhau bất thường. Kết luận: Chỉ số Doppler não - nhau có liên quan với màu sắc nước ối và kiểu hình monitoring sản khoa ở thai phụ được chỉ định mổ lấy thai vì suy thai. Cần thêm các nghiên cứu có cỡ mẫu lớn hơn, đo Doppler lặp lại và phân tích thêm các yếu tố như tuổi thai, thiểu ối, thai chậm tăng trưởng và bệnh lý mẹ để giúp làm rõ hơn mối liên quan này.   

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bộ môn Phụ Sản - Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế. Giáo trình Sản Phụ Khoa tập 1 - Dành cho đào tạo Sau đại học. Nhà xuất bản Đại học Huế. 2022. 463.
2. Nguyễn Thị Minh Phương. Nhận xét tỷ lệ và chỉ định mổ lấy thai ở 192 sản phụ sinh con con so đủ tháng tại bệnh viện Quân Y 354 năm 2022. Tạp chí Y học Quân sự. 2024. 369, 5. https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.433.
3. Kumar A., Singh A., Kumari S., Saha S.C., Singh T., et al. Role of cerebroplacental ratio in predicting perinatal outcome. Cureus. 2024. 16(2), e54816. https://doi.org/10.7759/cureus.54816.
4. Mohamed M.L., Mohamed S.A., Elshahat A.M. Cerebroplacental ratio for prediction of adverse intrapartum and neonatal outcomes in a term uncomplicated pregnancy. Middle East Fertility Society Journal. 2021. 26(1), 45. https://doi.org/10.1186/s43043-021-00090-3.
5. Bùi Thị Ngọc Trâm. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục thai kỳ đủ tháng có biểu đồ tim thai loại II trong chuyển dạ tại bệnh viện TWG Long An năm 2022 – 2023. Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. 2023. 51-70.
6. Ciobanu A., Wright A., Syngelaki A., Wright D., Akolekar R., et al. Fetal Medicine Foundation reference ranges for umbilical artery and middle cerebral artery pulsatility index and cerebroplacental ratio. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology. 2019. 53(4), 465–472. https://doi.org/10.1002/uog.20157.
7. Golshahi F., Sahebdel B., Shirazi M. et al. Relationship between fetal middle cerebral artery pulsatility index and cerebroplacental ratio with adverse neonatal outcomes in low-risk pregnancy candidates for elective cesarean section: A cross-sectional study. International Journal of Reproductive Biomedicine. 2022. 20(8), 663–670. https://doi.org/10.18502/ijrm.v20i8.11755.
8. Phạm Đắc Lộc. Nghiên cứu tình hình, một số yếu tố liên quan và kết quả xử trí suy thai được chẩn đoán bằng chỉ số khí máu động mạch rốn ngay sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2021-2023. Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. 2023. 39-43.
9. Jamal A., Marsoosi V., Sarvestani F., Hashemi N. The correlation between the cerebroplacental ratio and fetal arterial blood gas in appropriate-for-gestational-age fetuses: A cross-sectional study. International Journal of Reproductive BioMedicine. 2021. 19(9), 821–826. https://doi.org/10.18502/ijrm.v19i9.9714.
10. Gallo D.M., Romero R., Bosco M., Gotsch F., Jaiman S., et al. Meconium-stained amniotic fluid. American Journal of Obstetrics and Gynecology. 2023. 228(5S), S1158–S1178. https://doi.org/10.1016/j.ajog.2022.11.1283.
11. Vollgraff Heidweiller-Schreurs C.A., de Boer M.A., Heymans M.W., Schoonmade L.J., Bossuyt P.M.M., et al. Prognostic accuracy of cerebroplacental ratio and middle cerebral artery Doppler for adverse perinatal outcome: systematic review and meta-analysis. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology. 2018. 51(3), 313–322. https://doi.org/10.1002/uog.18809.
12. Nguyễn Thanh Thủy, Lưu Thị Thanh Đào, Lương Thị Ngọc Ngà và cộng sự. Tỷ lệ, kết cục thai kỳ và yếu tố liên quan ở thai đủ tháng có chỉ số não nhau bất thường tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025. 550(3). https://doi.org/10.51298/vmj.v550i3.14394.