NGHIÊN CỨU SỰ KHÁC BIỆT VỀ TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN LIPID MÁU GIỮA NAM VÀ NỮ VIÊN CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2023

Hoàng Minh Đăng1, , Nguyễn Hoàng Tín1,2, Trần Hoài Ân1
1 Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
2 Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Rối loạn lipid máu ngày càng trở nên phổ biến ở đối tượng nhân viên các trường đại học và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng, đặc biệt là những nhân viên cao tuổi. Mục tiêu nghiên cứu: Nhằm xác định tỉ lệ tăng triglycerid và LDL-c ở nam và nữ viên chức, người lao động của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và đánh giá mối liên quan giữa giới tính và tuổi với tình trạng tăng lipid máu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được tiến hành trên 685 viên chức và người lao động thông qua kết quả định lượng lipid máu (triglycerid và LDL-c) trong đợt khám sức khỏe định kỳ năm 2023. Kết quả: Mẫu nghiên cứu có tỉ lệ nam/nữ gần như tương đương nhau nhưng tỉ lệ này ở mỗi nhóm tuổi là khác nhau và tỉ lệ các nhóm tuổi trong mỗi giới cũng khác nhau (p<0,05). Tỉ lệ tăng triglycerid trong dân số chung là 41,6%. Tỉ lệ tăng triglycerid ở nam giới cao hơn nữ giới trong cả 4 nhóm tuổi (p<0,05). Nhóm 40-49 tuổi ở nam và >50 tuổi ở nữ có tỉ lệ tăng triglycerid cao nhất, lần lượt là 73% và 35,5% (p<0,05). Ngoài ra, tỉ lệ tăng LDL-c chung cho cả nam và nữ là 18,7%, trong đó nam (22,5%) cao hơn nữ (14,9%) với p=0,01. Nhóm tuổi 30-39 có sự khác biệt đáng kể giữa tỉ lệ tăng LDL-c ở nam và nữ (p=0,001). Ở nam giới, nhóm tuổi 30-39 và 40-49 có tỉ lệ tăng LDL-c cao nhất (p>0,05). Ở nữ giới, tỉ lệ tăng LDL-c tăng dần theo tuổi và cao nhất là nhóm >50 tuổi (p<0,05). Kết luận: Nam giới có tỉ lệ tăng triglycerid và LDL-c cao hơn nữ giới và độ tuổi có tình trạng tăng lipid máu cao ở nam là 30 đến 49 tuổi, ở nữ là >50 tuổi. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Opoku S., Gan Y., Fu W., Chen D., Addo-yobo E., et al. Prevalence and risk factors for dyslipidemia among adults in rural and urban China: findings from the China National Stroke Screening and prevention project (CNSSPP). BMC Pub Health. 2019. 19, 1500, https://doi.org/10.1186/s12889-019-7827-5
2. Pirillo A., Casula M., Olmastroni E., Norata G.D., Catapano A.L. Global epidemiology of dyslipidaemias. Nat Rev Cardiol. 2021. 18(10), 689-700, https://doi.org/10.1038/s41569-02100541-4.
3. Motuma A., Shiferaw K., Gobena T., Teji Roba K., Berhane Y., et al. Dyslipidemia and its predictors among adult workers in eastern Ethiopia: An institution-based cross-sectional study. PLOS ONE. 2023. 18(10), e0291665, https://doi.org/10.1371/journal.pone.0291665.
4. Okafor A.M., Ngwu E.K., Ayogu, R.N. Prevalence and associated factors of dyslipidaemia among university workers in Southeast Nigeria: A cross-sectional study. Arch Public Health. 2021. 79, 77, https://doi.org/10.1186/s13690-021-00600-9
5. Dutheil F., Baker J.S., Mermillod M., De Cesare M., Vidal A., et al. Shift work, and particularly permanent night shifts, promote dyslipidaemia: A systematic review and meta-analysis. Atherosclerosis. 2020. 313, 156-169, https://doi.org/10.1016/j.atherosclerosis.2020.08.015.
6. Lee M.H., Kim H.C., Ahn S.V., Hur N.W., Choi D.P., et al. Prevalence of Dyslipidemia among Korean Adults: Korea National Health and Nutrition Survey 1998-2005. Diabetes Metab J. 2012. 36(1), 43-55, https://doi.org/10.4093/dmj.2012.36.1.43.
7. Quyết định số 3879/QĐ - BYT ngày 30 tháng 09 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Quyet-dinh-3879-QD-BYT-2014-tai-lieuhuong-dan-chan-doan-dieu-tri-benh-noi-tiet-chuyen-hoa-259081.aspx#tab1.
8. Zhang F.L., Xing Y.Q., Wu Y.H., Liu H.Y., Luo Y., et al. The prevalence, awareness, treatment, and control of dyslipidemia in northeast China: A population-based cross-sectional survey. Lipids Health Dis. 2017. 16(1), 61, https://doi.org/10.1186/s12944-017-0453-2.