ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BÀNG QUANG TĂNG HOẠT BẰNG SOLIFENACIN 5 MG SAU 1 THÁNG TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Bàng quang tăng hoạt là một hội chứng được đặc trưng bởi sự co bóp bàng quang không ổn định, dẫn đến tiểu gấp, tiểu nhiều lần và tiểu đêm. Tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng gia tăng theo tuổi và thường bị bỏ sót hoặc điều trị chưa đầy đủ. Hiện nay, nhiều phương pháp điều trị bàng quang tăng hoạt đã được áp dụng, tuy nhiên hiệu quả điều trị còn khác nhau giữa các nhóm bệnh nhân. Vì vậy, việc đánh giá kết quả điều trị bàng quang tăng hoạt là cần thiết nhằm góp phần nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị bệnh lý này. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bàng quang tăng hoạt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc trước-sau điều trị, có 33 bệnh nhân mắc bàng quang tăng hoạt được điều trị bằng thuốc solifenacin 5mg tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ 12/2025 đến tháng 12/2025. Kết quả: Có 33 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 54,6 ± 17,2 tuổi. Điểm OAB-SS trung bình là 7,2 ± 1,8. Điểm QoL là 4 ± 0,8. Sau điều trị 1 tháng, có sự cải thiện điểm OAB-SS (7,2 giảm còn 3,6 điểm) và QoL (4 giảm còn 2,2 điểm) so với trước điều trị. Tác dụng không mong muốn thường gặp là khô miệng (12,1%). Không có bệnh nhân ngưng điều trị do tác dụng không mong muốn của thuốc. Kết luận: Điều trị bàng quang tăng hoạt bằng thuốc cho thấy hiệu quả cải thiện rõ rệt các triệu chứng lâm sàng và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Thuốc được dung nạp tương đối tốt, tuy nhiên cần theo dõi và cá thể hóa điều trị để đạt hiệu quả tối ưu.
Từ khóa
Bàng quang tăng hoạt, solifenacin, OAB-SS, chất lượng cuộc sống
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
2. European Association of Urology. EAU Guidelines on Non-neurogenic Female Lower Urinary Tract Symptoms. Arnhem, The Netherlands: EAU Guidelines Office. 2024.
3. Zhang L, Cai N, Mo L, Tian X, Liu H, Yu B. Global prevalence of overactive bladder: a systematic review and meta-analysis. Int Urogynecol J. 2025. 36(8), 1547-1566. DOI:10.1007/s00192-024-06029-2.
4. Vũ Lê Chuyên. Xác định tỷ lệ mắc bệnh bàng quang tăng hoạt của người lớn tại Việt Nam. Y Học TP. Hồ Chí Minh. 2016. Phụ Bản. 20 (2).
5. He W, et al. Comparative assessment of efficacy and safety of marketed oral drugs for overactive bladder: a systematic review and network meta-analysis. Int Braz J Urol. 2023.49(5), 535-563. https://doi.org/10.1590/S1677-5538.IBJU.2023.0158.
6. Nguyễn Văn Ân, Huỳnh Văn Nghĩa, Hà Hoàng Kiên, Phan Cao Lâm. Ứng dụng bảng điểm OAB-SS trong theo dõi hiệu quả điều trị hội chứng bàng quang tăng hoạt. Y Học Thành phố Hồ Chí Minh. 2022. 26(1),163-170.
7. Đỗ Thị Hải Yến, Vũ Minh Hoàn, Trần Thị Hải Vân. Tác dụng cải thiện rối loạn tiểu tiện của viên nén Ích Niệu Khang trên bệnh nhân có hội chứng bàng quang tăng hoạt nguyên phát (OAB). Tạp chí Y học Việt Nam. 2021. 506(1),151-155. DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v506i1.1187.
8. Nambiar AK, et al. European Association of Urology Guidelines on the Diagnosis and Management of Female Non-neurogenic Lower Urinary Tract Symptoms. Eur Urol. 2022. doi:10.1016/j.eururo.2022.05.033.
9. Scarneciu I, Lupu S, Bratu OG, et al. Overactive bladder: A review and update. Exp Ther Med. 2021.22(6),1444. DOI:10.3892/etm.2021.10879.
10. Trần Thị Linh, Nguyễn Văn Hậu, Hoàng Khánh Linh, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Thị Đinh. Đánh giá kết quả điều trị kích thích thần kinh chày sau qua da so với solifenacin cho bệnh nhân bàng quang tăng hoạt sau đột quỵ não. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024. 534(1),338-342. DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v534i1.8103.
11. Shim JH, et al. Efficacy and tolerability of solifenacin fumarate in overactive bladder patients: a prospective multicenter 12-week study. Urogenit Tract Infect. 2021. 16(1),8-15. DOI:10.14777/uti.2021.16.1.8.