KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ SAU XẠ TRỊ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Trương Thị Mỹ Ngân1, Nguyễn Thị Thùy Trang1, , Lê Kim Nguyên1, Trần Thu Tuyết1, Nguyễn Đỗ Hương Giang1, Hồ Thị Tuyết Mai1, Huỳnh Tuyết Trâm1, Trần Thị Phương Huỳnh1
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Chất lượng cuộc sống là một chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả điều trị và nhu cầu chăm sóc hỗ trợ ở người bệnh ung thư, đặc biệt sau xạ trị. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư sau xạ trị tại Bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 87 người bệnh ung thư điều trị nội trú, đã được xạ trị ít nhất một lần. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang đo EORTC QLQC30; số liệu được phân tích bằng thống kê mô tả, kiểm định Mann–Whitney U và Kruskal–Wallis. Kết quả: Điểm trung bình chất lượng cuộc sống tổng quát là 43,3 ± 17,9; điểm chức năng chung 35,9 ± 14,2; điểm triệu chứng 23,3 ± 17,1; vấn đề tài chính 27,6 ± 19,0. Trong nhóm chức năng, hoạt động có điểm cao nhất (59,4 ± 30,5), cảm xúc có điểm thấp nhất (19,3 ± 18,1). Trong nhóm triệu chứng, mất ngủ (40,2 ± 34,2), chán ăn (33,3 ± 30,5) và đau (24,5 ± 23,5) là các vấn đề nổi bật. Tình trạng kinh tế liên quan có ý nghĩa thống kê với chất lượng cuộc sống tổng quát (p = 0,013) và vấn đề tài chính (p = 0,010); thời gian từ khi chẩn đoán bệnh liên quan với điểm chức năng (p = 0,020); số lần xạ trị liên quan với điểm triệu chứng (p = 0,035). Kết luận: Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư sau xạ trị trong nghiên cứu còn thấp, đặc biệt ở lĩnh vực cảm xúc và gánh nặng triệu chứng. Cần tăng cường hỗ trợ tâm lý, kiểm soát triệu chứng và hỗ trợ kinh tế cho người bệnh. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bray F, Laversanne M, Sung H, Ferlay J, Siegel RL, et al. Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA: A Cancer. Journal for Clinicians. 2024. 74(3), 229-63, doi: 10.3322/caac.21834.
2. Knez J, Sobocan M, Belak U, Kavalar R, Zupin M, et al. Pre-treatment risk assessment of women with endometrial cancer: differences in outcomes of molecular and clinical classifications in the Slovenian patient cohort. Radiol Oncol. 2021. 56(1), 76-82, doi: 10.2478/raon-2021-0036.
3. Zhang L, Su Y, Hua Y, Liu W, Yue L, et al. Validation of EORTC QLQ-LC43 for Chinese patients with lung cancer. Lung Cancer. 2014. 85(1), 94-8, doi: 10.1016/j.lungcan.2014.04.006.
4. Trần Trung Kiên, Lê Thanh Vũ. Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược Shing Mark. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2023. (66), 36-43, doi: 10.58490/ctump.2023i66.1763.
5. Wan C, Meng Q, Yang Z, Tu X, Feng C, et al. Validation of the simplified Chinese version of EORTC QLQ-C30 from the measurements of five types of inpatients with cancer. Annals of Oncology. 2008. 19(12), 2053-60, https://doi.org/10.1093/annonc/mdn417.
6. Dương Huy Lương, Trần Thị Lý. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư phổi sau xạ trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025. 552(3), 307-312, doi: https://doi.org/10.51298/vmj.v552i3.15144.
7. Nguyễn Quỳnh Tú, Vũ Thị Thu, Phạm Đình Phúc, Đào Công Ba, Đào Thị Ngọc Minh. Đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân ung thư tại Khoa Ung thư tổng hợp, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Journal of 108 - Clinical Medicine and Pharmacy. 2022. 17(DB8), 4-12, https://doi.org/10.52389/ydls.v17iDB8.1332.